Bnok - Gia Đình của bạn
chip: Những thành viên nhỏ của 1 gia đình nhỏ trong ...
wikkyknow: Hi! we are a family
Room: Kinh tế
Số bình luận:  33
Số bài viết:     6
Ngân hàng HSBC có phải là nhà phân tích thị trường khách quan và chính xác?

Chỉ số VN-Index của thị trường chứng khoán Việt Nam sáng nay (9/7) tăng giá trong bối cảnh trước đó chứng khoán Mỹ tăng điểm khá mạnh. Trong khi đó, vào đầu phiên giao dịch sáng nay, các chỉ số chứng khoán châu Á cũng đã có phiên tăng điểm ấn tượng nhất kể từ tháng 3/2008. Việc các chỉ số chứng khoán Mỹ và Á đồng loạt tăng mạnh trở lại là do giá dầu thế giới tụt giảm xuống sát 135 USD/thùng. Cụ thể, tính tới 8h30 sáng nay (9/7), giá dầu thô giao tháng 8/2008 trên thị trường quốc tế đã giảm mạnh xuống 135,89 USD/thùng. Tính tới 11h20 (giờ Việt Nam) giá dầu có tăng đôi chút nhưng cũng chỉ ở mức hơn 136 USD/thùng. Tuyệt đối đừng nghe những lời có cánh từ các nhà phân tích có những nhận định luôn luôn thay đổi xoành xoạch.

Nhiều nhà đầu tư cho biết, họ vẫn đang lựa chọn để mua vào các mã cổ phiếu lớn. Đây cũng là lý do khiến các cổ phiếu chủ chốt trên sàn liên tục tăng điểm trong 3 phiên gần đây và là lực đẩy chính giúp VN-Index tăng điểm.

Về báo cáo của HSBC cho rằng thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng và châu Á - Thái Bình Dương nói chung vẫn đang trong xu hướng đi xuống và vẫn đối mặt với nhiều thách thức, hầu hết các nhà đầu tư có mặt trên sàn SeABank cho biết họ không biết và cũng không quan tâm nhiều tới bản báo cáo này.

“Tôi chưa biết bản báo cáo này nhưng vài báo cáo gần đây cho thấy HSBC thay đổi các dự báo quá nhanh và như vậy thì không còn nhiều ý nghĩa nữa”, anh Nguyễn Hoàng, một nhà đầu tư nói.
Ngày 4/7 vừa qua, Ngân hàng HSBC đã đưa ra bản báo cáo Chiến lược kinh doanh cổ phiếu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thường kỳ (Pan-Asian Equity Strategy) trong đó HSBC đã hạ dự báo về chỉ số VN-Index xuống mức thấp đáng kể so với những lần dự báo trước.
Trong báo cáo lần này, HSBC cho rằng chỉ số VN-Index của TTCK Việt Nam vào cuối năm 2008 sẽ ở mức 400 điểm và tới cuối năm 2009 sẽ tăng lên 450 điểm.
Đây là lần thứ 3 HSBC điều chỉnh chỉ số VN-Index mục tiêu trong năm nay. Hồi đầu năm ngân hàng này dự báo chỉ số VN-Index sẽ ở mức 1.100 điểm vào cuối năm 2008. Đến tháng 4, chỉ số này được dự báo sẽ về mức 600 điểm và với dự báo mới nhất này thì chỉ số VN-Index bị giảm thêm 50% nữa so với chỉ tiêu cũ.
Còn tính tới cuối năm 2009, dự báo về chỉ số này được điều chỉnh từ mức 1.300 điểm hồi đầu năm xuống mức 750 điểm hồi tháng 4 và lần này được điều chỉnh xuống còn 450 điểm vào cuối năm 2009.

“HSBC là một tổ chức có uy tín trên thế giới nhưng có nhiều điều mà các tổ chức lớn cũng không thể nắm rõ hết tình hình trong nước, ví như tâm lý của các nhà đầu tư Việt Nam, các dòng tiền lớn nhỏ đang chảy trong dân…”

Hiện tại, theo tôi, điều mà các nhà đầu tư quan tâm là kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết sẽ như thế nào. Một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong quý 1 nhưng dường như đã bớt khó khăn trong quý 2. Và đặc biệt, nếu mặt hàng tối quan trọng là dầu thô giảm thì áp lực tăng chi phí nói chung tới nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng sẽ bớt căng thẳng.

Bài học lịch sử

Tôi lại còn nhớ hơn 18 năm trước, khi tôi bắt đầu là một sinh viên đại học Kinh tế, thì ngành sư phạm luôn là ngành dành cho những người “không dám thi trường nào khác vì sợ bị rớt”. Lúc đó rất nhiều người đã không úp mở lên tiếng cảnh báo: “Ngành sư phạm như vậy thì vài chục năm nữa xã hội sẽ hứng chịu hậu quả” và thật sự là như thế vì bạn bè cùng lớp cùng trường của tôi nhiều người năng lực - kiến thức kém đều thi đậu Sư phạm cả.  

Thực trạng của ngành giáo dục hiện nay cho thấy chúng ta đã không học được gì từ bài học ai cũng biết đó.

 

Mấy năm nay đang có một bài học “thời thượng” mà nhiều người nói đến: “Đừng chạy theo tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, hãy phát triển hài hòa, bền vững, hãy chú trọng đến môi trường, đạo đức và sự công bằng xã hội…”. Lấy gì đảm bảo chúng ta học được bài học này không?

 

Biết lịch sử là một chuyện (chắc không khó lắm đâu!), nhưng học được bài học đó quả là khó… Bởi nó đòi hỏi sự DŨNG CẢM - SÁNG TẠO.

 

 

Luật Chứng khoán còn nhiều bất cập

Ngày 17.6, UBCKNN đã tổ chức buổi toạ đàm rà soát Luật Chứng khoán sau một năm có hiệu lực. Theo nhiều ý kiến, Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn còn một số vướng mắc cần sửa đổi.

1/ Minh bạch thông tin

Hiện Luật CK và các văn bản liên quan còn chưa có hướng dẫn chi tiết, cụ thể về hoạt động phát hành CK riêng lẻ của Cty đại chúng, chào bán và niêm yết CK của các pháp nhân nước ngoài trên TTCKVN.
Đây là điều luật đã “vênh” với thực tế khi thời gian qua, đã có Cty 100% vốn nước ngoài thực hiện bán CP cho CB-CNV (dưới 100 người) nhưng sau đó đã được giao dịch trên thị trường OTC.

NĐT trong trường hợp này sẽ chịu nhiều rủi ro và không được bảo vệ, đồng thời DN cũng không chịu những ràng buộc theo quy định như Cty trong nước.

“Chúng tôi cũng được nhiều DN hỏi về thủ tục pháp lý liên quan đến DN nước ngoài muốn chào bán CK tại VN, nhưng cũng chỉ biết trả lời rằng luật VN chưa quy định”, ông Nguyễn Vũ Quang Trung - PGĐ TTGDCK Hà Nội (HaSTC) - cho biết.

Dự kiến, hoạt động chào bán CK sẽ được siết chặt hơn, đồng thời gắn liền với việc niêm yết, đăng ký giao dịch. Nghị định 14/2007/NĐ-CP sẽ được bổ sung quy định điều kiện chào bán CK ra công chúng là tổ chức phát hành phải thực hiện niêm yết/đăng ký giao dịch CP trên thị trường tập trung, đồng thời với việc chào bán. Đây là điểm sẽ làm thay đổi hoạt động của thị trường tự do lâu nay.

Đặc biệt, để hạn chế tình trạng phát hành CP, chào bán ồ ạt nhưng chưa có mục đích cụ thể, UBCKNN kiến nghị Bộ Tài chính cho phép hướng dẫn hồ sơ chào bán CK phải bổ sung dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và phương án sử dụng vốn huy động từ công chúng cho dự án đầu tư.

Liên quan đến vấn đề công bố thông tin, minh bạch hóa thị trường, các ý kiến đề nghị quy định cụ thể hơn, bao trùm các đối tượng cần phải công bố thông tin như các định chế tài chính, các tổ chức, cá nhân có liên quan.

“Ví dụ tại Singapore, khi một cá nhân có liên quan tới DN (như thuộc HĐQT) mà có quan hệ kinh tế hợp đồng với bản thân DN đó nhưng với tư cách khác cũng phải công bố thông tin đầy đủ để tránh các trường hợp trục lợi” - ông Trung cho biết.
Đại diện Cty kiểm toán PWC, bà Nguyễn Phi Lan lại đề cập tới góc độ chuyên nghiệp và tin cậy của các BCTC kiểm toán. Bà Lan đưa ra một ví dụ cụ thể về một DN đã bị Cty từ chối xác nhận kiểm toán toàn phần nhưng sau đó vẫn “làm cách nào đó” có được xác nhận của một Cty kiểm toán khác và đủ tiêu chuẩn niêm yết.

Ông Nguyễn Vũ Quang Trung cũng cho rằng vấn đề định giá DN cần độc lập vì hiện phụ thuộc quá nhiều vào DN và đơn vị tư vấn. Do đó không loại trừ khả năng DN chất lượng kém được “làm đẹp” để bán được giá.

2/ Công cụ phái sinh: Đã đến lúc áp dụng

Liên quan đến các CTCK, nhiều đại diện DN đã đưa ra các vướng mắc có thể xảy ra nếu luật không có sự sửa đổi và làm rõ. Theo ý kiến của ông Lê Hồ Khôi - TGĐ CTCK Tràng An, luật cần nêu rõ nội hàm của CTCK như một định chế tài chính trung gian. “CTCK không thể chỉ là đối tượng ở giữa ăn môi giới mà cần triển khai nhiều nghiệp vụ khác, đặc biệt là hỗ trợ NĐT như cho vay qua nghiệp vụ tài khoản ký quỹ”.

Theo ý kiến này, lâu nay chính NĐT nhỏ lẻ là đối tượng phải gánh chịu nhiều rủi ro nhất vì không được bảo vệ bằng những công cụ tài chính vốn rất phổ biến trên thế giới.

Theo ông Nguyễn Vũ Quang Trung - PGĐ HaSTC, luật cũng cần mở rộng điều chỉnh các hoạt động chào bán CK phái sinh và thị trường giao dịch cho các loại CK này cũng như các sản phẩm quỹ đầu tư mới.

Ông Trung nêu trường hợp hạn chế sở hữu 49% của NĐTNN. Mặc dù luật quy định nếu đạt mức sở hữu tối đa thì NĐTNN không được phép mua thêm. Tuy nhiên trên thực tế, DN thực hiện chia thưởng hoặc bán ưu đãi và cổ đông được quyền mua.  (Chứng khoán 24h)

CÁC BIỆN PHÁP NÀY CÓ THỂ ĐẨY LÙI LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM KHÔNG?

CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ THOÁT KHỎI LẠM PHÁT VÀ KHỦNG HOẢNG

Như đã phân tích sơ bộ nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ở bài trước, phần này chúng ta đi sâu vào nghiên cứu lạm phát của Việt Nam và các biện pháp khắc phục của Chính phủ từ đó chúng ta có quan điểm của riêng mình trong vấn đề này.

I/ Lạm phát của Việt Nam:Thời gian qua khi giá cả bắt đầu tăng vọt nhiều chuyên gia kinh tế ở Việt Nam có những quan điểm, nhận định, đánh giá lạm phát khác nhau, dẫn đến đề ra nhiều biện pháp khác nhau để đẩy lùi lạm phát.

Khủng hoảng nguyên nhiên liệu gắn liền với lạm phát, gọi là lạm phát chi phí đẩy. Lạm phát xảy ra do chi phí tăng lên trong những giai đoạn thất nghiệp cao và mức huy động nguồn lực yếu ớt được gọi là lạm phát chi phí đẩy   nguyên nhân của lạm phát chi phí đẩy là do chi phí tăng lên. Tất nhiên phương thuốc đặc trị cho loại “lạm phát chi phí đẩy” phải là hạ chi phí.

 Lạm phát là do cung tiền tệ lớn hơn nhu cầu lưu thông hàng hoá và dịch vụ. Vì thế để ngăn chặn lạm phát thì phải giảm nguồn cung tiền trong lưu thông bằng cách tăng lãi suất vay, tìm cách hút tiền về, hay còn gọi là chính sách thắt chặt tiền tệ.

Lạm phát cầu kéo. Theo định nghĩa: “Lạm phát cầu kéo diễn ra khi tổng cầu tăng nhanh hơn tiềm năng sản xuất của một nước, kéo giá tăng lên để làm cân bằng tổng cung và tổng cầu” , phản ánh quan hệ kinh tế tổng cầu lớn hơn tổng cung.

Theo tôi Việt Nam lạm phát bởi các nguyên nhân sau:

1/ Do cầu kéo: Việt Nam trong những năm vừa qua đạt được những thành tựu to lớn trong kinh tế, thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài và tăng trưởng hàng năm cao. Chính điều này cũng góp phần vào việc làm tăng lạm phát.

2/ Do chi phí đẩy: Trên thực tế đã và đang diễn ra thì hiện nay không riêng gì Việt Nam mà rất nhiều nước trên thế giới như: Trung quốc, Anh, Pháp, Singapore,…. Những nước phải nhập khẩu dầu đều phải chịu lạm phát tăng lên nhanh khi giá dầu tăng nóng đột biến. như đã phân tích ở bài trước, khi giá dầu tăng lên tất cả các ngành SX-TM-DV của bất cứ nền kinh tế nào phụ thuộc vào dầu mỏ hay không nhập khẩu dầu cũng đều phải bị chi phí đẩy lên, dẫn đến tăng nguyên liệu đầu vào và làm tăng giá cả hàng hóa.

3/ Quy mô nền kinh tế bé nhỏ, trình độ khoa học, kỹ thuật của lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất còn lạc hậu so với thế giới. Nhập khẩu hàng hóa công nghệ cao, hàm lượng chất xám lớn với chi phí cao, bù lại xuất khẩu hàng hóa thô sơ chủ yếu là nông sản, lương thực….

4/ Năng lực quản lý và điều hành của bộ máy nhà nước còn chậm chạm và kém hiệu quả. Tuy nhiên vấn đề cũng được nhiều người đặt ra là: “Tại sao các nước có nền kinh tế lớn, sử dụng năng lượng dầu nhiều hơn Việt Nam gấp nhiều lần mà lạm phát lại ít hơn Việt Nam?” Tại sao ở Việt Nam vấn đề lạm phát lại trầm trọng hơn các nước khác?. Vấn đề này cần phải phân tích ở một góc độ tổng quát và toàn cảnh nền kinh tế. Có các lý giải sau:

- Tại các nước lớn, phát triển cao hơn Việt Nam thì do quy mô nền kinh tế lớn, trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, của cải vật chất xã hội làm ra nhiều, hay nói cách khác tổng cung của các nền kinh tế này lớn và ổn định nên mức độ lạm phát diễn ra chậm và ít hơn Việt Nam (Quan hệ cung cầu và giá cả). Ví dụ như ở Trung Quốc mặc dù Tổng cục Thống kê nhà nước Trung Quốc cho rằng, nhìn chung giá tiêu dùng tương đối ổn định, nhất là trong bối cảnh giá lương thực thế giới đang tăng chóng mặt. CPI tháng 4 tăng nhẹ so với tháng 3, nhưng đã giảm so với mức kỷ lục trong tháng 2 (8,7%)… Nhưng, điều đáng lo ngại là giá bất động sản trong tháng 4 của Trung Quốc tăng 6,8%; giá thực phẩm cũng tăng mạnh (trung bình 22%). Từ năm 2007 đến nay, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã 6 lần tăng lãi suất chủ chốt và 13 lần tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng, coi đây là một trong những biện pháp kiềm chế lạm phát. Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng bởi xuất khẩu tăng chậm lại, chính sách thắt chặt tiền tệ và giữ giá đồng nhân dân tệ, trong khi chi phí lao động tăng cao. Một khó khăn lớn nữa với kinh tế Trung Quốc là tình trạng giá dầu leo thang, đã lên 128 USD/thùng, trong khi nhu cầu dầu của Trung Quốc đang tăng mạnh. Để tránh rơi vào tình trạng thiếu nhiên liệu, Trung Quốc gần đây đã phải áp dụng các biện pháp trợ giá tới 45 tỷ USD (tương đương 1,1% GDP và khoảng 5,2% tổng thu ngân sách). Để không xảy ra tình trạng mất điện trong mùa hè này, Trung Quốc có thể cần phải áp dụng các biện pháp trợ giá tốn kém hơn.

- Tỷ trọng nhập khẩu so với GDP của các nền kinh tế này thấp hơn ta. Ví dụ : Tỷ trọng NK so với GDP của Việt Nam năm 2007 là 74,13% thì của Mỹ là 14,54%, Trung quốc là 29,69%. Nhìn vào đây chúng ta cũng thấy được nhập siêu của Việt Nam là quá lớn so với các nước này.

- Giải pháp thắt chặt tiền tệ một cách cứng nhắc của Việt Nam cũng đẩy nền kinh tế đến chổ mất ổn định cao. Như tôi đã nói ở phần trước, phần này tôi có thể nói lại rằng lạm phát ở Việt Nam không phải do nguyên nhân chính là tiền tệ. Vì vậy, khi NHNN thắt chặt tiền tệ, hút tiền về vô hình chung đã làm cho nền kinh tế bị hụt tiền, NHTM tranh nhau nâng lãi suất huy động để hút tiền (15%/năm), giải chấp cổ phiếu và BDS đến hạn ào ạt dẫn đến TTCK, TTBDS sụt giảm mạnh một cách bất thường. Khi TTCK, BDS không còn hấp dẫn nhà đầu tư thì nguồn vốn lớn này lại quay đầu càng làm TTCK, BDS giảm mạnh hơn, Lượng tiền vốn rất lớn từ TTCK và BDS sau khi quay đầu một số sẽ chọn Ngân hàng làm  bến đỗ neo đậu vốn qua cơn hoạn nạn (số này theo tôi nghĩ cũng không nhiều), một số lượng tiền khác chuyển sang đầu cơ hàng hóa như : Gạo, Thép, Xi măng, Ngoại tệ mạnh… làm nên những cơn sốt ảo về  Gạo, Thép, Xi măng, Ngoại tệ mạnh…trong thời gian vừa qua (số này theo tôi nghĩ là rất lớn). Chính điều này đã làm tổn thương nền kinh tế, góp phần đẩy lạm phát tiến lên.

 II/ Các biện pháp đẩy lùi lạm phát: 

- Thực hiện đúng, đủ gói giải pháp của Thủ tướng tại văn bản số 319/TTg-KTTH ngày 3/3/2008, về việc tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm phát năm 2008, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư để huy động đủ vốn đáp ứng cho yêu cầu tăng trưởng; đồng thời, phải đặc biệt quan tâm nâng cao hiệu quả việc sử dụng vốn đầu tư, nhất là lĩnh vực đầu tư công; xem xét lại những công trình, dự án đọng vốn quá lâu, thiết kế ban đầu không còn phù hợp nữa hoặc công trình đầu tư kém hiệu quả; đình hoãn hoặc dãn những công trình chưa thật cần thiết.

- Cải cách, tinh giản bộ máy hành chính công, hiện nay bộ máy hành chính của ta quá cồng kềnh, số lượng người đông làm việc không hiệu quả, lãng phí nguồn lực của xã hội, chính phủ hằng năm phải trả một khoản tiền lương rất lớn để nuôi bộ máy hoạt động. Triệt để chống tham nhũng, quan liêu. Cải cách giáo dục đào tạo theo phương pháp tiên tiến và hiện đại, tạo ra nguồn lực lao động đáp ứng với đòi hỏi ngày càng cao của xã hội.

- Thống nhất ngay cách tính chỉ số giá cả, lạm phát thực tế của nền kinh tế để điều chỉnh đúng mức độ. Tính toán lại chính sách tiền tệ hiện nay, cần phải linh hoạt và có một lộ trình cụ thể để kiểm soát một cách bình tĩnh nguồn vốn của nền kinh tế, giảm sức ép về vốn vay. Minh bạch hóa các định chế tài chính, công khai chính sách, chủ trương của Nhà nước để ổn định tâm lý của người dân.

- Làm cuộc cách tân nền kinh tế, nâng cao trình độ quản lý, trình độ khoa học – kỹ thuật của lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất.

- Duy trì chính sách giảm thuế nhập khẩu, thậm chí cần phải giảm  thêm thuế đối với các mặt hàng chủ yếu như: thép, phôi thép, kim loại thường khác, phân bón, giấy, chất dẻo nguyên liệu, sợi, bông, giấy, clinker, lúa mỳ, bột giấy và cao su…. Vì khi giá dầu tăng dẫn đến giá nguyên liệu phi dầu mỏ thế giới càng sốt nóng, thì giá nguyên liệu NK của các DN càng bị “gia nhiệt” thêm dẫn đến giá cả tăng theo.  Rõ ràng, trong khi thuế trong thương mại quốc tế của Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn trong tất cả các khoản thuế, tức là thị trường trong nước của Việt Nam hầu như phải chịu sự tác động bất lợi ngay tức thì của thị trường thế giới , còn thu ngân sách nhà nước của nước ta lại dựa quá nhiều vào thuế NK như hiện nay, thì hiển nhiên sốt nóng giá nguyên liệu thế giới nói chung và giá nguyên liệu phi dầu mỏ thế giới nói riêng bị khuếch đại càng lớn ở thị trường trong nước thông qua thuế suất NK vẫn còn ở mức rất cao, đương nhiên dẫn đến hậu quả là giá hàng hóa tiêu dùng liên tục tăng cao ngất ngưởng. Do vậy, biện pháp giảm mạnh thuế suất NK cho dù chưa mang lại kết quả giảm giá ở thị trường trong nước ngay tức thì và chúng ta không kiềm chế được giá tiêu dùng như mục tiêu đã đề ra, thì đây cũng là biện pháp “khoan sức… DN” trong bối cảnh giá nguyên liệu đã liên tục tăng “phi mã” hiện nay. Vì vậy cần giảm thêm thuế nhập khẩu nhằm “khoan sức cho DN”, mà thực chất là “khoan sức dân” nhằm mục tiêu đẩy tổng cầu tăng lên.

Các biện pháp này không thể chận ngay tức thời lạm phát được nhưng về lâu dài thì lại là một kế sách ổn định và hiệu quả.

Võ Doãn Tri

PHÂN TÍCH LẠM PHÁT VÀ KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ

Như chúng ta đã biết, hiện nay toàn thế giới đang gặp khó khăn, Mỹ thì khủng hoảng về tiền tệ và bất động sản, Singapore và một số nước khác trong đó có Việt nam thì bị lạm phát, một số nước khác thì bị thiếu lương thực trầm trọng, tình hình Trung đông vẫn rất nóng và biến động đầy rủi ro, thiên tai hoành hành khắp nơi. Thế giới hiện nay đang hàm chứa nhiều nguy cơ bất ổn. Vì vậy ta thử đi sâu vào phân tích một số khía cạnh của nền kinh tế Việt Nam và thế giới ngõ hầu tìm biện pháp khắc phục.

1/ Tại sao Việt Nam lại lạm phát?

Có rất nhiều nguyên nhân để dẫn đến lạm phát nhưng tập trung ở 02 nguyên nhân chính sau:

-         Trong 5 năm vừa qua nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ 8% năm, sau 5 năm cộng dồn thì nền kinh tế phát triển 1,5 lần dẫn đến lạm phát tự nhiên là điều không thể tránh khỏi.

-         Trong 5 năm qua giá dầu thế giới tăng từ 60USD/thùng lên đến 135USD/thùng, tăng 75USD/thùng (225%). Với nền kinh tế thế giới hiện nay rất phụ thuộc vào năng lượng vì vậy khi giá dầu tăng tất cả mọi sản phẩm đều phải tăng tương ứng. Nhất là lương thực, cho nên tình hình an ninh lương thực toàn cầu cũng bị đe dọa nghiêm trọng. Khi cái ăn của con người trở nên đắt đỏ thì mọi sinh hoạt trong xã hội phải tăng lên nhiều.

Với 02 nguyên nhân chính này đã dẫn đến Việt Nam phải chịu lạm phát đến hai con số. Tuy nhiên, lạm phát thực tế ở con số nào ta sẽ bàn ở phần sau.

2/ Khủng hoảng tiền tệ tại Việt Nam do đâu?

Trong 5 năm qua Qui mô nền kinh tế tăng 1,5 lần, dẫn đến chính phủ phải SX 1 lượng tiền tương ứng để hoạt động SX-KD, hay nói cách khác lượng tiền của toàn xã hội tăng 1,5 lần. Tuy nhiên, các tổ chức kinh doanh tiền tệ, tức là những người sử dụng lượng tiền này (bao gồm các Ngân hàng, thị trường chứng khoán, bất động sản và các tổ chức tín dụng khác như: bảo hiểm….) tăng 4 lần, và qui mô cũng tăng 6 lần tựu trung lại thì lực lượng sử dụng vốn của xã hội tăng 24 lần. Như vậy là cung tiền không đủ cho cầu => khan hiếm tiền mặt trong lưu thông.

Hơn nữa, vì mục tiêu chống lạm phát nên NHNN đã hút về 1 lượng tiền khá lớn của nền kinh tế. Việc khan hiếm tiền tệ lại càng căng thẳng hơn.

Để thoát tình trạng trên các ngân hàng buột phải lao vào cuộc đua lãi suất nhằm huy động lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội, đồng thời giải chấp các tài sản thế chấp như: cổ phiếu, bất động sản đến hạn… nhằm đắp lại lổ hổng về vốn.

3/ Hậu quả của việc khủng hoảng tiền tệ:

Vì áp lực thiếu tiền trong ngắn hạn nên các NH đã phải lao vào cuộc đua lãi suất nhằm huy động lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội, đồng thời giải chấp các tài sản thế chấp như: cổ phiếu, bất động sản đến hạn… nhằm đắp lại lổ hổng về vốn. Dẫn đến giá của cổ phiếu và bất động sản rớt thê thảm nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Thị trường chứng khoán, bất động sản đóng băng, tính thanh khoản rất thấp, thậm chí tại một vài thời điểm = 0.

Nguy hiểm hơn nữa đó là: vì phải huy động tiền gửi với lãi suất cao => lãi suất cho vay phải cao 18%/năm.

Với lãi suất cao như thế thì có 02 trường hợp xãy ra:

-         Trường hợp thứ nhất: Với lãi suất 18%/năm các doanh nghiệp phải làm bài toán về hiệu quả đầu tư và kinh doanh sao cho lãi trước thuế phải 50%/năm, bởi vì: Mong muốn của người kinh doanh là phải đạt được lợi nhuận tối thiểu 20%/năm (vì gửi NH đã được 15%/năm) cộng với 18%/năm của lãi vay là 38% cộng thuế thu nhập doanh nghiệp khỏan 12%. Với bài toán trên liệu có nhà doanh nghiệp nào dám bỏ vốn đầu tư không, vì 50% lợi nhuận là một điều quá không tưởng trong bối cảnh kinh tế hiện nay.

-          Trường hợp thứ hai: Với lãi suất trên các nhà kinh doanh cổ phiếu, bất động sản với kỳ vọng vào sự tăng trở lại của thị trường, đồng thời duy trì suất đầu tư của mình trong thời gian qua sẽ chấp nhận vay ở mức lãi suất này.

Với tình cảnh này, các ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong tương lai, và trong tương lai sẽ xãy ra một cuộc chiến gay cấn để sắp xếp lại thị trường vốn.

Sau cuộc chiến này sẽ có nhiều Ngân hàng nhỏ, tiềm lực vốn hóa yếu sẽ ra đi, nhường sân lại cho các đại gia.

Quan trọng hơn nữa là vì phải chịu lãi suất vay cao nên sau khi bình ổn, khủng hoảng qua đi thì giá cổ phiếu và bất động sản sẽ tăng rất nhanh, để bù đắp lại phần đã mất trong cuộc khủng khoảng này.

Hết phần I. Mời các bạn xem tiếp phần II (Các biện pháp để thoát ra khỏi lạm phát và khủng hoảng) sẽ post lên sau.

Đây là bài viết dựa vào sự phân tích kinh tế khách quan, và hoàn toàn là quan điểm cá nhân không chịu ảnh hưởng của cá nhân hay tổ chức nào.

Kính chúc các bạn vui khỏe và có nhiều ý kiến phản biện khác để chúng ta cùng suy ngẫm

Võ Doãn Tri

THỬ PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ Ô TÔ

Hãy thử đoán lợi ích của việc tăng thuế:

1/ Giảm nhập siêu.

2/ Tạo điều kiện cho ngành ô tô trong nước.

3/ Giảm ách tắt giao thông.

4/ tăng nguồn thu ngân sách NN.

Phản biện:

1/ Thuế tăng => giá thành ô tô tăng => chi phí vận chuyển tăng => giá thành xuất khẩu tăng => bất lợi cho xuất khẩu. Như vậy thì lợi ích này cũng ko phát huy lắm.

2/Ngành ô tô trong nước đơn thuần là lắp ráp, CN chế tạo phụ kiện kém => chỉ làm thuê rẻ mạt chứ chả ích gì. Hơn 10 năm đã làm được gì đâu?

3/ Ô tô nhập giảm vì tăng thuế thì ô tô trong nước tăng lên bù vào => không giải quyết bài toán giao thông. trái lại môi trương kém hơn vì chất lượng xe trong nươc thấp hơn xe nhập.

4/ Hạn chế nhập thì lấy gì thu mà tăng?

Như vậy tăng thuế có lợi gì? Mời các bạn bình luận tiếp.

Hoạt động của room
20.07.2010
+
(2) bình luận: tucvlk, Nguyễn hữu ngọc
14.06.2010
+
(11) bình luận: pham dat, rosaliagul, gannthorn
17.05.2010
12.03.2010
+
(6) bình luận: ronnmccas, kaelahreas, Billy
14.02.2010
(bacchus - 21.10.2008)
+
(10) bình luận: beortbtrae, brodietong, huutung
06.01.2010
+
(616) bình luận: attewodeca, calyndaant, kentonhick
29.12.2009
+
(13) bình luận: hong quan hb, quan, nguyen van phong
13.12.2009
+
(13) bình luận: Hồ diên đức, phạm anh vũ, sad_dad_das
Bạn bè nhận xét
Viết bài nữa đi bạn, mình thích cách phân tích của bạn đấy