Cuộc sống tươi đẹp...
scarlett: click vào blast và sửa được đó anh
Room: BlogCafeF
Số bình luận:  42
Số bài viết:     18
Crises and Government

Trong một bài viết trên blog, giáo sư kinh tế Greg Mankiw, đại học Harvard tỏ ý hoài nghi gói kích thích kinh tế của chính phủ Mỹ (VN dùng từ kích cầu có lẽ không đúng với thuật ngữ: fiscal stimulus.

Lý do Mankiw phản đối gói kích cầu được giải thích trong đồ thị trên về government revenue as a percent of GDP.

Điểm đáng chú ý trong đồ thị trên là sự “phình to” của chính phủ Mỹ trong giai đoạn từ 1929 - 1945. Thật dễ dàng để hiểu vì sao chính phủ lại “tăng trưởng” nhiều như thế trong thời kỳ này: nhà nước đã phản ứng lại với sự sụp đổ kinh tế trong Great Depression và đặc biệt là sau thế chiến thứ hai.

Mankiw đặc biệt lưu ý một điểm rất quan trọng: But what is noteworthy is that while these crises were transitory, the increase in the scope of government was permanent.

Khủng hoảng xảy ra trong ngắn hạn nhưng sự “bành trướng” của bộ máy nhà nước lại diễn ra trong dài hạn từ 1929-1945.

Một câu câu hỏi thú vị mà Mankiw gợi ý cho các phóng viên kinh tế nên tập trung vào kế hoạch kích thích của chính phủ Mỹ đó là khi nền kinh tế trở lại mức việc làm và tăng trưởng bình thường như trước thì ngân sách quốc gia sẽ như thế nào?

Here is one question reporters should focus on when evaluating the proposed plan: Five or ten years from now, when the economy is presumably at some normal level of employment and growth, what will the federal budget look like, as evaluated by the budget deficit and tax revenue as a share of GDP?

Lê Giang cũng ghi nhận 5 lý do mà David Backus, giáo sư kinh tế NYU, phản đối fiscal stimulus . Stimulus skeptic

- Hard to do: khó có thể tiêu thêm hàng trăm tỷ với hệ thống hành chính hiện tại, càng khó hơn để chi cho những dự án thực sự có ích cho xã hội

- Bad timing: đa số các nhà kinh tế dự báo kinh tế Mỹ sẽ bình ổn trở lại vào nửa sau năm 2009 và phục hồi từ năm 2010, trong khi kế hoạch stimulus nhanh lắm cũng chỉ có thể khởi động vào nửa sau 2009 và thực sự có tác động vào nền kinh tế trong năm 2010, khi mà nền kinh tế không cần stimulus nữa (xem thêm về vấn đề độ trễ của chính sách ở đây).

- Small multiplier: mặc dù sách giáo khoa cho rằng fiscal multiplier xấp xỉ 2, các nhà kinh tế, kể cả những người ủng hộ stimulus như Krugman, cũng chỉ dám tin multiplier xấp xỉ 1, thậm chí còn nhỏ hơn 1. Nếu vậy $700b stimulus trong 2 năm sẽ chỉ tương đương 2.5% GDP mỗi năm, không thấm tháp gì so với mưc độ suy giảm kinh tế (âm 4-5%).

- Long-term budget issues: về lâu dài Mỹ sẽ phải đối mặt với những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng hơn liên quan đến quĩ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế. Vung tay quá trán ở thời điểm hiện tại khi chính phủ đang nợ đầm đề sẽ trói tay chính mình trong tương lai khi cần phải giải quyết các vấn đề long-term kia.

- It’s the financial system: cuộc khủng hoảng hiện tại của Mỹ giống như Nhật thời thập kỷ 90, đó là khủng hoảng hệ thống tài chính. Do đó điều quan trọng là dọn sạch hệ thống tài chính chứ không phải cứ tiếp tục đổ tiền vào kích cầu. Nhật đã tiêu tốn rất nhiều tiền vào fiscal stimulus nhưng không cứu vãn được tình hình, phải đến khi chính phủ Koizumi giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thì Nhật mới thoát ra được cuộc khủng hoảng.

Cá nhân anh Lê Giang thì “thiên về phía Krugman, không phải vì “thấy người sang bắt quàng làm họ”, mà tôi cho rằng nền kinh tế Mỹ hiện vẫn còn ẩn náu rất nhiều rủi ro (ví dụ credit card lending). Bởi vậy fiscal stimulus, dù có thể có nhiều hạn chế như Mankiw và Backus chỉ ra, có tác dụng như một biện pháp preemptive, phòng ngừa những mắt xích yếu nhất bung ra ở những thời điểm không ai ngờ tới. Ngoài ra, nền kinh tế Mỹ như một con bệnh vừa qua khỏi cơn nguy kịch (hi vọng thế) nhưng hệ đề kháng còn rất yếu, một liều kháng sinh phòng ngừa có thể giúp con bệnh này chống chọi với các cú shock bất ngờ mới từ bên ngoài (thiên tai, khủng bố…)”.

Tuy nhiên anh Lê Giang và Krugman chưa trả lời câu hỏi sau khi vượt qua khủng hoảng thì tỷ trọng ngân sách nhà nước trong GDP sẽ như thế nào?

GDP

(Bài viết với mục đích học hỏi là chính)

Để tăng GDP thì các nhà hoạch định chính sách kinh tế có hai cách, một là áp dụng các chính sách làm tăng tổng cầu, hay là thực hiện các chính sách làm tăng tổng cung.

Tuy nhiên, tình hình thực tế hiện nay cho thấy tổng cầu đang sụt giảm do tình hình kinh tế ngày càng trở nên khó khăn, doanh nghiệp và người dân đang thắt chặt chi tiêu. Do đó, việc làm tăng tổng cầu là cần thiết trong thời điểm hiện nay. Tăng tổng cung có thể gây ra tình trạng “dư thừa năng suất”, gây ra hiện tượng giảm phát trong tình hình kinh tế thế giới đang trên đà suy thoái.

Để có thể tác động đến tổng cầu, các nhà kinh tế và hoạch định chính sách chắc chắn phải lưu ý đến những tác nhân có thể tác động đến tổng cầu, sử dụng và lượng định các công cụ kích thích cần thiết cũng như đề phòng những “tác dụng phụ” của nó, tránh tình trạng kích cầu nhưng lại làm tăng lạm phát trong thời gian vừa qua.

Theo công thức tính tổng cầu: AD = C + I + G + X

(tổng cầu = tiêu dùng + đầu tư tư nhân + chi tiêu chính phủ + xuất khẩu ròng)

Từ đó các nhà kinh tế đề ra hai biện pháp để kích cầu:

  1. Chính sách tiền tệ: cắt giảm lãi suất cơ bản, mở rộng tín dụng bằng cách nới lỏng điều kiện cho vay. Về mặt lý thuyết lãi suất cho vay giảm sẽ khuyến khích các doanh nghiệp vay tiền để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, khuyến khích người tiêu dùng vay tiền để mua nhà cửa, mua những vật dụng lâu bền… (những khoản chi tiêu này mặc dù do người tiêu dùng chi tiêu nhưng lại được xếp trong khoản mục đầu tư)

Tuy nhiên, trên thực tế việc đầu tư của doanh nghiệp tư nhân lại phụ thuộc rất lớn vào khả năng tiêu thụ của nền kinh tế cũng như khả năng xuất khẩu hàng hóa, thực tế cho thấy các doanh nghiệp thường trì hoãn việc đầu tư mở rộng sản xuất nếu như họ biết rằng sản lượng hàng hóa họ sản xuất được không thể tiêu thụ khiến doanh thu sụt giảm, do đó làm giảm lợi nhuận.

Một yếu tố khác có tác động không nhỏ đến việc đầu tư của doanh nghiệp đó là kỳ vọng của họ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế. Trong tình hình các nền kinh tế lớn trên thế giới được dự báo sẽ còn tiếp tục gặp khó khăn trong năm 2009 thì việc các doanh nghiệp bi quan trước khả năng phát triển của nền kinh tế là điều có thể hiểu được. Do đó chắc chắn những khoản chi phí đầu tư mở rộng nhà xưởng, máy móc, thiết bị sẽ được tạm ngưng cho đến khi nào có những tín hiệu lạc quan hơn về tương lai. (trên blog anh Giang có một entry đo lường về vấn đề này, tuy nhiên ở Việt Nam thì chưa có số liệu thống kê nào khẳng định việc các doanh nghiệp đang giảm các khoản mục đầu tư vào việc mua sắm máy móc, thiết bị).

Thực tế Việt Nam cho thấy lãi suất giảm là một điều kiện cần nhưng lại chưa đủ để khuyến khích doanh nghiệp vay tiền để đầu tư, điều kiện đủ phải là khả năng tiếp cận nguồn tín dụng. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ với mức lãi suất hiện tại có thể chấp nhận được nhưng lại không thể tiếp cận được với nguồn vốn rẻ. Do đó, cùng với việc giảm lãi suất ngân hàng nhà nước phải tăng hạn mức tín dụng, đặc biệt cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bài của Nguyễn Vạn Phú gần đây cũng lo ngại về tình trạng thiếu khả năng tiếp cận với nguồn vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Một biện pháp khác để tăng đầu tư từ phía người tiêu dùng đó là ngân hàng mở rộng cung cấp tín dụng bằng các khoản vay mua nhà trả góp dài hạn cho người có thu nhập khá, có việc làm ổn định để mua nhà cửa hay để mua nhà. Tuy nhiên, các ngân hàng cần phải chắc chắn rằng mục đích mua nhà là để ở chứ không phải để đầu cơ, đồng thời cần phải xác minh người được vay có khả năng trả nợ. Đây là một bài toán không dễ giải quyết bởi một mặt mở rộng cửa cho vay mua nhà nghĩa là nới rộng cửa cho tín dụng bất động sản, mặt khác phải có những biện pháp kỹ thuật để hạn chế tối đa tình trạng đầu cơ như đã từng diễn ra cuối năm 2007, đầu năm 2008.

  1. Chính sách tài khóa là những khoảng chi tiêu của chính phủ như tăng mua sắm các hàng hóa và dịch vụ sẽ trực tiếp làm tăng chi tiêu (tác động đến G); giảm thuế hoặc các khoản chuyển nhượng sẽ làm cho thu nhập của người tiêu dùng tăng lên, tạo ra mức tiêu dùng lớn hơn (tác động đến C).

Chi tiêu của chính phủ như mua đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng trường học, tăng lương cho giáo viên, cán bộ công chức… sẽ tác động trực tiếp đến tổng cầu và làm tăng GDP một cách nhanh chóng nhất. Tuy nhiên, một vấn đề mà các nhà kinh tế học Việt Nam đang tranh luận đó là tăng G bằng cách nào và tăng G như thế nào cũng như tăng G cho ai.

Quan điểm của ông Lê Đăng Doanh:

  1. Hỗ trợ nông dân bằng giống, thủy lợi, giảm đến mức thấp nhất các loại phí còn lại, trợ cấp vốn.
  2. Giãn, khoanh, xóa nợ cho nông dân.
  3. Đầu tư, xây dựng cơ bản
  4. trợ giúp xuất khẩu,
  5. giảm hoặc miễn thuế,
  6. xây dựng hệ thống an sinh xã hội,

Theo anh Lê Hồng Giang thì chỉ có mục 3 và mục 6 của ông Doanh là có thực sự tác động trực tiếp đến tổng cầu còn các mục còn lại có tác động đến tổng cung, một điều làm ông Giang lo ngại: “nếu thế giới tiếp tục chìm sâu vào khủng hoảng trong năm 2009, việc đầu tư ồ ạt có thể tạo ra excess capacity trong thời gian tới, vừa phí phạm nguồn lực của xã hội vừa gây ra nguy cơ deflation”.

Hầu hết quan điểm của các kinh tế gia (cả già lẫn trẻ) mà tôi được biết đều ủng hộ việc kích cầu (riêng anh Tự Anh cần phải hỏi rõ lại quan điểm) nhưng một số kinh tế gia hiểu biết sâu rộng lại rất lo ngại chuyện kích cầu sẽ làm cho khu vực nhà nước trở nên lớn mạnh hơn như kinh nghiệm kích cầu năm 1999 của thủ tướng Khải cho thấy. Ông Võ Trí Thành nói rằng: “Mỗi lần kích cầu là cải cách khu vực kinh tế nhà nước lại chậm lại”.

Trong một bài viết khá vội vàng trên SGTT, anh Đức Thành cũng bày tỏ sự lo ngại sự lớn mạnh của khu vực nhà nước nếu như tiền ngân sách lại tiếp tục đổ vào đây thông qua các biện pháp mở rộng chính sách tài khóa của chính phủ. Về mặt kỹ thuật tôi đồng tình với quan điểm của anh Thành rằng rất dễ để “bơm tiền” vào khu vực nhà nước, và hoàn toàn có thể bơm một lượng tiền lớn một cách nhanh chóng nhưng hậu quả về lâu dài sẽ là những cơn sốt chứng khoán, bất động sản khi lượng tiền này không được khu vực này tiêu thụ kịp hay nói cách khác đó là tiêu thụ không hiệu quả.

Ước tính (Tỷ đồng)

So với kế hoạch
năm 2008 (%)

Tháng
9/2008

9 tháng
năm 2008

Tháng
9/2008

9 tháng
năm 2008

Một số Bộ

Bộ Công thương

18,5

170,6

7,8

72,0

Bộ Xây dựng

11,0

90,0

3,1

25,6

Bộ NN và PTNT

250,0

1597,5

15,0

95,8

Bộ Giao thông Vận tải

720,0

3687,2

11,5

58,7

Bộ Giáo dục và Đào tạo

101,5

759,2

9,1

67,8

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

35,5

303,9

8,0

68,9

Bộ Y tế

76,5

652,7

8,2

70,0

Theo bảng phân bổ ngân sách đầu tư nhà nước 9 tháng đầu năm thì tỷ lệ giải ngân cho đầu tư của Bộ Giáo dục và đào tạo là 759,2 tỷ đồng (tỷ lệ giải ngân so với kế hoạch là 67,8%), Bộ Giao thông Vận tải là 3.687,2 tỷ đồng (58,7%), riêng Bộ Xây dựng 90 tỷ đồng, chỉ đạt 25,6% kế hoạch năm. Đầu tư cho giáo dục và y tế vẫn còn chiếm một tỷ trọng tương đối thấp so với các ngành khác.

Do đó, tôi cho rằng trong kế hoạch kích cầu lần này cần phải tăng ngân sách cho ngành giáo dục và y tế như ý kiến của anh Giang dẫn lại ý kiến của Thomas Cooley: “Một ý tưởng rất hay của Thomas Cooley (NYU) mà VN có thể học hỏi là tăng đầu tư vào giáo dục trong hoàn cảnh kinh tế bị suy thoái. Ngân sách sẽ chi một khoản tiền lớn nâng cấp các cơ sở vật chất của ngành giáo dục, tăng lương cho giáo viên, tăng học bổng cho sinh viên đồng thời trả một phần học phí cho sinh viên, trợ giúp tiền mua sách vở và các phương tiện học tập cho học sinh. Một điểm Cooley nhấn mạnh là phải đầu tư nhiều vào năng lực của hệ thống nhà trẻ/mẫu giáo để giúp trẻ em phát triển tốt trong giai đoạn trước khi đến trường. Điều này có lẽ rất khác với ý tưởng của VN tập trung nguồn lực xây dựng một trường đại học đẳng cấp quốc tế (top 200). Dù sao đầu tư cho giáo dục luôn là cách thức đầu tư khô ngoan cho cả cá nhân và xã hội”.

Về y tế “có thể trước mắt cần tập trung cải tổ và bành trướng các hệ thống an sinh xã hội hiện có, ví dụ phát miễn phí bảo hiểm y tế cho người nghèo hay nông dân ở các vùng bị thiên tai”.

Về việc hoãn thực hiện thuế thu nhập cá nhân nửa đầu năm 2009, ông Trí Thành nói rằng điều đó chắc chắn sẽ được thực hiện, chỉ bằng một biện pháp kỹ thuật rất đơn giản chỉ Việt Nam mới có đó là Thường vụ Quốc hội gởi văn bản đến các đại biểu Quốc hội đề nghị đồng ý với chính phủ. Một chính sách hợp ý Đảng, lòng dân thế này thì chắc chắn các đại biểu sẽ phải thông qua.

Tuy nhiên, các kinh tế gia có tầm nhìn lại phải lo ngại một vấn đề khác từ việc giảm thuế lần này, đó là việc thâm hụt ngân sách. Theo lý thuyết, mở rộng chính sách tài khóa sẽ làm tăng thâm hụt ngân sách đáng kể nhất là trong trường hợp ngân sách đang lạm chi như hiện nay. Giải quyết bài toán này không dễ bởi vì một vài số liệu 9 tháng của TCTK:

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2008 ước tính đạt 90,5% dự toán năm (cùng kỳ năm trước đạt 68,6% dự toán cả năm), trong đó thu nội địa đạt 84,8%; thu từ dầu thô đạt 86%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 111%.

Nếu giá dầu thô tiếp tục đứng ở mức thấp như hiện nay thì thu từ dầu thô, chiếm một tỷ trọng khá lớn trong ngân sách (đang tìm hiểu xem tỷ trọng này là bao nhiêu) sẽ giảm đáng kể. Cộng với việc thu nội địa giảm do thuế suất giảm, hoãn thuế thu nhập cá nhân và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm thì việc thâm hụt ngân sách trong năm 2009 chắc chắn sẽ xảy ra. Vấn đề là bao nhiêu % mà thôi.

Để có tiền kích cầu trong bối cảnh trái phiếu giảm chính phủ chắc chắn sẽ phát hành ồ ạt trái phiếu nhà nước. Thế nhưng việc phát hành trái phiếu không dễ bởi vì theo đánh giá của Standard&Poor, hệ số tín nhiệm tài chính của Việt Nam đã giảm cộng với việc phát hành nhiều trái phiếu (đồng nghĩa với việc chính phủ vay nợ nhiều) thì lãi suất của trái phiếu sẽ tăng. Nếu lãi suất trái phiếu chính phủ tăng cao, gần bằng với lãi suất cho vay của các ngân hàng thì gần như chắc chắn các ngân hàng trong nước sẽ mua trái phiếu chính phủ, một hiện tượng đang diễn ra trong thời gian gần đây.

Rõ ràng, bài toán kích cầu không hề dễ giải quyết một chút nào đối với các nhà policy makers, cũng như các nhà kinh tế tư vấn chính sách cho chính phủ trong thời điểm hiện nay.

Giảm thuế cho ai để tăng tổng cầu nhanh

Lý thuyết kinh tế cho thấy rằng người có thu nhập cao sẽ có tỷ lệ tiết kiệm cao hơn người nghèo, khi đã thỏa mãn được tất cả các nhu cầu vật chất và tinh thần một cách tối thiểu thì người giàu sẽ để dành số tiền không tiêu dùng. Do đó, về mặt nguyên tắc, việc giảm thuế cho người giàu sẽ không có tác động đến tổng cầu bằng việc giảm thuế cho người nghèo.

Do đó, tôi lo ngại rằng việc trì hoãn thuế thu nhập cá nhân không có tác dụng kích thích tiêu dùng một cách nhanh chóng và toàn bộ như ý định của những người đề xuất ý kiến này. Người có thu nhập cao chắc chắc sẽ dành khoảng tiền có được đột ngột đó để tiết kiệm hơn là tiêu dùng, họ cũng khó lòng đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong tình hình kinh tế ảm đạm như hiện nay.

Xét về mặt công bằng xã hội thì việc trì hoãn thuế thu nhập cá nhân sẽ làm tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo ở Việt Nam nhiều hơn bởi vì thuế đánh theo lũy tiến. Xét về tác dụng kích cầu thì gần như chắc chắn nó sẽ không có tác dụng trong ngắn hạn, kinh nghiệm cho thấy ở Mỹ việc giảm thuế cũng không có tác dụng thúc đẩy tiêu dùng nhiều như người làm chính sách mong đợi hay ngay cả ở Đài Loan, việc phát phiếu mua sắm (một cách giảm thuế trực tiếp) cũng không có ảnh hưởng nhiều đến hành vi tiêu dùng của người dân trong thời kỳ kinh tế suy thoái.

Xét về dài hạn thì việc trì hoãn thuế thu nhập cá nhân là một bước lùi khá lớn của chính sách thuế ở Việt Nam cũng như sẽ làm tăng thâm hụt ngân sách nhà nước một khoảng đáng kể, phần nào đó sẽ gây khó khăn trong chương trình kích cầu của nhà nước.

Một điều cần phải lưu ý đó là việc giảm thuế hay hoãn thuế rất dễ bởi vì rất được dư luận ủng hộ nhưng việc tăng thuế sẽ rất khó.

Nếu tôi là một nhà hoạch định chính sách thì tôi sẽ yêu cầu các nhà kinh tế tìm biện pháp để giảm thuế cho người nghèo nhưng vẫn giữ nguyên thuế cho người giàu. Âu đó cũng là cách chia sẻ giữa người với người trong tình cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay.

Khủng hoảng kinh tế

Thuật ngữ kinh tế

Russia

speculation attack:
A speculative attack is the massive selling of a country’s currency assets by both domestic and foreign investors. Countries that utilize a fixed exchange rate are more susceptible to a speculative attack than countries utilizing a floating exchange rate. This is because of the large amount of reserves necessary to hold the fixed exchange rate in place at that fixed level. Nevertheless, if a government chooses to maintain a fixed exchange rate during a speculative attack, they risk the chance of severe economic depression or financial collapse, as illustrated by the Argentine and East Asian financial crises.


stock exchange

market capitalization
Market capitalization/capitalisation (aka market cap, mkt cap or capitalized/capitalised value) is a measurement of corporate or economic size equal to the share price times the number of shares outstanding of a public company. As owning stock represents owning the company, including all its assets, capitalization could represent the public opinion of a company’s net worth and is a determining factor in stock valuation. Likewise, the capitalization of stock markets or economic regions may be compared to other economic indicators. The total market capitalization of all publicly traded companies in the world was US$51.2 trillion in January 2007[1] and rose as high as US$57.5 trillion in May 2008[2] before dropping below US$50 trillion in August 2008 and slightly above US$40 trillion in September 2008.[3]
domestic demand

foreign demand

downgrade

sovereign rating
Sovereign ratings are gaining importance as more governments with greater default risk borrow in international bond markets. But while the ratings have proved useful to governments seeking market access, the difficulty of assessing sovereign risk has led to agency disagreements and public controversy over specific rating assignments. Recognizing this difficulty, the financial markets have shown some skepticism toward sovereign ratings when pricing issues.

swap line: hạn mức tín dụng chéo

Infrastructure

Fiscal stimulus

monetary stimulus

infrastucture

infrastructure spending

earning

SOEs

package

refinance

capacity: năng lực sản xuất

profit margin: lợi nhuận biên

Giá gạo

Một số bài về giá gạo lưu lại đây để làm tư liệu viết bài

Giá gạo tăng cao: Đón đầu cơ hội hay cẩn trọng?

Bộ trưởng NN&PTNT sẵn sàng nhận kỷ luật do dự báo kém

Update 16/11

Tìm được một ý kiến ủng hộ việc xuất khẩu gạo ngay tại thời điểm vừa xảy ra giá gạo tăng cao của Võ Tòng Xuân

Sẽ thiệt thòi nếu không xuất khẩu gạo lúc này

Một điều khá ngạc nhiên đó là VN là một nước nông nghiệp nhưng tìm trên google từ khóa “kinh tế học nông nghiệp” thì lại không tìm thấy một bài viết nào bàn về vấn đề này.

Có một vài đặc điểm của kinh tế học nông nghiệp mới được biết:

- Thị trường nông sản là một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá cả do cung - cầu quyết định.

- Supply của nông sản ngày càng lớn do tiến bộ technology nhưng demand lại có hạn (nhu cầu nông sản có hạn, mặc dù dân số ngày càng tăng thế giới không thể tiêu thụ số lượng nông sản được sản xuất với tốc độ ngày càng lớn hơn tốc độ tăng dân số)

Do đó, giá nông sản càng ngày càng giảm (số liệu của nông nghiệp Mỹ đã chứng minh), đang tìm hiểu xem số liệu nông sản của VN => nông dân càng ngày càng nghèo mặc dù số lượng nông sản sản xuất nhiều hơn trước.

- Hoa Kỳ trợ giá nông nghiệp rất kinh, bằng nhiều hình thức khác nhau. VN không làm được như thế.

Update 17/12

Hợp đồng và quỹ bảo hiểm

“Sản xuất theo hợp đồng và quỹ bảo hiểm nông nghiệp là hai công cụ cấp thiết và hữu ích giúp nông dân ứng phó với những biến động của thị trường: giá vật tư nông nghiệp tăng cao, nông sản rớt giá mạnh, lúa gạo khó tiêu thụ cũng như thiên tai dịch bệnh”, PGS.TS. Vũ Trọng Khải - trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và Phát triển nông thôn II

Ông Khải chắc chưa biết độ co dãn của giá nông sản rất lớn do thị trường nông sản là cạnh tranh hoàn hảo, giá nông sản biến động thất thường cho nên để thực hiện ý tưởng mua nông sản theo hợp đồng thì ngân sách nhà nước đứng ra bù lỗ rất lớn (chắc chắn doanh nghiệp không muốn đứng ra gánh lấy khoản chênh lệch giá này)

Còn việc lập quỹ bảo hiểm thì lại càng bất khả thi hơn lý do cũng bởi vì giá nông sản biến động thất thường và phụ thuộc vào thời tiết, dịch bệnh cho nên khi thời tiết xấu hay xảy ra dịch bệnh thì toàn bộ số nông sản được bảo hiểm sẽ bị rủi ro. Thế nên không một nhà bảo hiểm nào dám đứng ra bảo hiểm cho một sản phẩm mà xác suất sự cố xảy ra đồng loạt và trên diện rộng như thế.

Có một điều ông Khải nói đúng:

Chúng ta đang đứng trước một thực trạng khó khăn là tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chỉ là 20%, nhưng tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm tới 57-58% lực lượng lao động toàn xã hội. Đặc biệt, dân cư nông thôn vẫn chiếm 70% dân số cả nước, nghĩa là 70% dân số đang sống dựa vào 20% GDP thì làm sao có mức sống cao được.

Ở các nước phát triển, tỷ trọng nông nghiệp chỉ chiếm 5% trong GDP và cũng chỉ có tương ứng 5% dân số sống dựa vào nông nghiệp mà thôi.

Hồi sáng mới đọc chỉ số lạm phát của TCTK, có một điều cảm thấy lạ là chỉ số giá lương thực lại tăng đều qua các năm, nếu theo đúng lý thuyết thì giá lương thực thực phẩm sẽ càng ngày càng giảm mới đúng bởi vì lượng nông sản sản xuất hàng năm tăng cao do cải thiện năng suất bằng cách ứng dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật.

Sự bất thường này có lẽ phải hỏi bác Xuân, nhưng tôi đoán là do sản xuất lương thực của VN vẫn còn manh mún (do luật đất đai) trên một diện tích đất nhỏ, chủ yếu dùng sức người là chính chứ không thể sử dụng máy móc. Viết đến đây nhớ lại hồi học cấp 2 (cách đây cũng hơn chục năm rồi) được học bài luận Anh ngữ viết về việc nông dân Hoa Kỳ sử dụng máy gặt đập liên hợp, cho đến bây giờ hình như nông dân VN cũng chưa sử dụng loại máy thông dụng này thì phải? (diện tích đất quá nhỏ thì chắc chắn là sử dụng máy không hiệu quả rồi).

Update 18/12

Anh Giang có viết một entry khá hay về chủ đề này

Food

Mặt trái của quá trình này là khi nông sản được tập trung sản xuất ở một số nước nhất định thay vì trải ra trên toàn thế giới, một khi những trung tâm sản xuất đó bị thiên tai hay một lý do nào đó làm gián đoạn sản xuất thì cả thế giới sẽ bị ảnh hưởng. Với lương thực thực phẩm, một loại hàng hóa cơ bản có elasticity rất thấp, vấn đề này sẽ càng nguy hiểm. Cuộc khủng hoảng giá gạo và các mặt hàng nông sản đầu năm nay là một ví dụ cụ thể.

Tôi không rõ là anh Giang muốn nói đến “độ co giãn” của cái gì. Nếu nói về giá thì độ co giãn về giá của lương thực rất cao, độ co giãn về cung cũng rất cao, chỉ cần thời tiết thay đổi là sản lượng lương thực sẽ thay đổi ngay lập tức, chỉ có độ cho giãn về cầu là không thay đổi nhiều do mỗi người ăn mỗi ngày cũng chỉ 3 chén cơm, có trồng thêm lúa cũng không ai ăn thêm được 4, 5 chén.

Xuất khẩu gạo Thái Lan năm 2009 dự báo đạt 8,5 triệu tấn thấp hơn rất nhiều so với con số 10 triệu tấn của năm 2008

Tin ngắn nhưng khá  quan trọng bởi nó dự báo giá gạo xuất khẩu của VN trong thời gian tới và cả năm 2009 sẽ tiếp tục giảm (giá gạo VN thường thấp gạo Thái).

Liquidity trap (Bẫy tiền mặt, bẫy thanh khoản) Bài viết của anh Giang Lê

Chú thích: Bài này do anh Giang Lê viết tại đây http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2008/10/helicopter-ben.html

Tôi chỉ copy về và ghi chú ra Tiếng việt những thuật ngữ kinh tế bằng tiếng Việt để nhằm mục đích học hỏi.

Liquidity trap (Bẫy tiền mặt, bẫy thanh khoản)

(Bẫy tiền mặt; Bẫy thanh khoản theo định nghĩa trong kinh tế học là tình huống mà trong đó việc tăng cung tiền không dẫn tới việc giảm lãi suất mà đơn thuần chỉ dẫn đến việc tăng số dư tiền nhàn rỗi; độ co giãn cầu về tiền đối với lãi suất trở thành vô hạn).


Đây là topic bắt đầu được nhắc đến khá nhiều trong mấy ngày qua trong giới econblogs. Thực ra khoảng tháng 4-5/2008 đã có người nhắc đến nó và kinh nghiệm của Japan trong giai đoạn 1990s (Roubini). Nhưng lúc đó nhiều người cho rằng tình trạng kinh tế của Mỹ khác xa Nhật, ít nhất là Mỹ vẫn đang bị lạm phát 4-5%, nên liquidity trap khó xảy ra. Tuy nhiên sau khi giá dầu thô sụp đổ xuống dưới $70/thùng (50% so với đỉnh chỉ cách đây 3 tháng), khả năng deflation (giảm phát) đã không còn quá xa và nguy cơ liquidity trap bỗng nhiên thành hot topic.

Về mặt lý thuyết, liquidity trap là trường hợp nominal interest rate (lãi suất danh nghĩa) đã xuống quá thấp (gần zero), cộng với lạm phát âm khiến cash (tiền mặt) trở thành một công cụ tài chính hấp dẫn. Do vậy mọi cố gắng của ngân hàng trung ương nới lỏng chính sách tiền tệ để kích thích đầu tư và tiêu dùng đều không có tác dụng. Liquidity (thanh khoản) được bơm thêm vào hệ thống tài chính sẽ nằm yên trong các tài khoản ngân hàng thay vì được đem đi đầu tư. Tệ hại hơn, nhà đầu tư có thể sẽ chuyển số liquidity này ra nước ngoài để mua assets (tài sản) với lợi tức cao hơn (carry trades), càng làm chậm quá trình credit expansion (mở rộng tín dụng) mà central bank (ngân hàng trung ương - FED) cố gắng đạt được.

Helicopter Ben, nickname của Thống đốc Cục dự trữ liên bang Mỹ Ben Bernanke, đã có một bài phát biểu quan trọng về các biện pháp đối phó với vấn đề deflation mà Japan đã gặp phải trong thập kỷ 90 và chính Mỹ cũng bị rơi vào trong cuộc Đại khủng hoảng 29-33. Biện pháp quan trọng nhất mà Bernanke đưa ra là phối hợp giữa fiscal expansion (mở rộng công khố) và monetary easing (sự làm bớt căng thẳng tình hình tiền tệ), điều mà Bernanke so sánh với textbook’s helicopter drop. (Trong bài phát biểu của mình, Bernanke nhắc đến khái niệm “helicopter drop” rất phổ biến trong các sách giáo khoa kinh tế (Bernanke cho rằng đây là khái niệm của Milton Friedman). Về cơ bản đây là cách kích thích kinh tế bằng cả fiscal và monetary expansion. Thay vì ngân hàng trung ương “in tiền” ra rồi dùng máy bay trực thăng thả xuống cho dân, chính phủ giảm thuế và central banks phối hợp bằng cách mua vào trái phiếu chính phủ. Đây có thể coi là policy of last resort khi Fed fund rate đã xuống gần bằng không như thời điểm năm 2001 và hiện tại. Nếu nhìn những gì Fed đã làm trong giai đoạn khủng hoảng hiện nay có thể thấy Bernanke đã rất consistent với lý thuyết của mình (tăng balance sheet của Fed, mở thêm các liquidity facilities mới, cắt lãi suất rất mạnh). Có lẽ vì thế gần đây nhiều người đã nghĩ đến cái policy of last resort này và “Helicopter Ben” càng ngày càng trở nên popular). Không có gì ngạc nhiên là fiscal stimulus number II (kích thích kinh tế bằng công khố) gần như chỉ còn là vấn đề khi nào và bao nhiêu.

Tuy nhiên không phải tất cả các nhà kinh tế đều ủng hộ helicopter drop. Tyler Cowen (Marginal Revolution) cho rằng fiscal stimulus sẽ chỉ delay (trì hoãn) quá trình adjustment (điều chỉnh) những lệch lạch của nền kinh tế. Có thể Fed và Treasury sẽ giữ cho GDP không sụt giảm quá mạnh, nhưng chính sách này sẽ là tiền đề cho một cuộc khủng hoảng khác trong tương lai mà có thể còn tồi tệ hơn. Một số đề suất khác (Thoma, Kling) thay stimulus thông qua tax rebate (giảm thuế) bằng government spending (chi tiêu của chính phủ) cũng có những rủi ro tương tự, chưa kể crowding out có thể xảy ra trong ngắn hạn.

Steve Waldman cũng đưa ra một ý tương tự như Cowen. Cuôc khủng hoảng hiện tại xảy ra cơ bản vì hệ thống tài chính của Mỹ đã phát triển lệch lạc. Thay vì phải là một bàn tay vô hình luân chuyển vốn một cách hiệu quả từ người tiết kiệm đến nhà đầu tư thì nó đã xóa sạch mọi thông tin hữu ích trong một quá trình mỹ miều với cái tên là “risk spreading” (dàn trải rủi ro), làm cả hai phía của thị trường (saver/borrower) đưa ra những quyết định sai lầm. Giải quyết cuộc khủng hoảng hiện tại phải là một cuộc cải tổ triệt để hệ thống tài chính chứ không phải một vài chính sách Keynesian nhằm lấy uy tín ngắn hạn cho các policy makers (những nhà làm chính sách).

Quay lại vấn đề liquidity trap và fiscal stimulus. Đến thời điểm hiện tại, nhiều tên tuổi nặng ký như Feldstein, Krugman, Summers, đã kêu gọi cho fiscal stimulus. Bernanke với khả năng trả lãi suất cho excess reserve (dự trữ vượt quá giới hạn) hoàn toàn có thể accommodate (cung cấp) bất kỳ liquidity expansion nào. Fed Funds Rate hiện tại đã là 1%, cũng chẳng còn xa 0% là mấy (3-month OIS hiện tại là 0.6%, T-note yield  là 0.33%). Theo Jeff Hummel, balance sheet (bảng cân đối) của Fed trong mấy tuần vừa qua cho thấy Mỹ gần như đã rơi vào liquidity trap: mức độ tăng của bank reserve (dự trữ tiền mặt của ngân hàng?) gần như bằng đúng với tăng trưởng base money (cơ sở tiền tệ). Nghĩa là tất cả các công cụ tiền tệ của Fed (repos, discount window, TAF, PDCF,…) chỉ làm tăng cash giữ trong bank chứ không làm tăng credit (một ví dụ cụ thể ở entry này).

Tất nhiên Bernanke đã không chịu ngồi yên nhìn những gì xảy ra ở Nhật diễn lại trước mắt mình. CPFF đã được đưa vào hoạt động để Fed trực tiếp can thiệp vào thị trường corporate credit (tín dụng cho các công ty). Sắp tới MMIFF cũng sẽ được kích hoạt với cùng mục đích. Khả năng can thiệp tiếp theo là Fed sẽ mua trực tiếp equity của các doanh nghiệp, một kế hoạch TARP thứ hai. Và như đã đề cập đến ở đây, Fed càng ngày càng giống monobank system (hệ thống một ngân hàng) của VN và các nước XHCN trước những năm 90.
Khi các ngân hàng thiếu niềm tin

Tin mới được các phóng viên kinh tế cập nhật cho biết Vietcombank, ngân hàng ngoại thương lớn nhất của VN đã rút 40% tổng số tiền gởi ở nước ngoài về và phần lớn số tiền đó đang gởi ở ngân hàng Nhà nước. Một số ngân hàng khác cũng có những động thái tương tự.

Khi tin này được loan ra, chắc hẳn có rất nhiều người đang gởi tiền ở Vietcombank và các ngân hàng trong nước cảm thấy an tâm và thở phào nhẹ nhõm khi biết rằng các ngân hàng của mình đã rút tiền về, tránh được những rủi ro của cuộc khủng hoảng tài chính đang đe dọa nền kinh tế Mỹ và châu Âu.

Thế nhưng, động thái rút tiền về của Vietcombank và các ngân hàng Việt Nam lại có khả năng gây khó khăn về mặt thanh khoản cho các ngân hàng nước ngoài mà Vietcombank đang gởi tiền.

Hãy thử tưởng tượng Vietcombank là một khách hàng của một ngân hàng A ở nước ngoài, do lo sợ tình hình khủng hoảng tài chính ảnh hưởng đến ngân hàng A (sự lo sợ này là có thật nhưng không rủi ro cao đến mức phải rút tiền về bởi vì đứng sau lưng ngân hàng A là FED, Cục dự trữ liên bang Mỹ có trách nhiệm đảm bảo trả năng trả nợ cho các khoản tiết kiệm) nên Vietcombank đã rút các khoản tiền gởi của mình về.

Nếu như các khách hàng khác của ngân hàng A cũng lo sợ như Vietcombank thì ngân hàng A không thể nào cùng một lúc có đủ tiền để đảm bảo việc chi trả. Tình trạng thiếu thanh khoản của ngân hàng A sẽ xảy ra và ngân hàng A buộc phải rút tiền của mình ở các ngân hàng khác về để có tiền đảm bảo khả năng rút tiền của khách hàng. Khi đó, rất có nhiều khả năng một cuộc khủng hoảng thanh khoản sẽ xảy ra và trên thực tế nhiều người cũng đã nhắc tới nó trong thời gian gần đây.

Hệ thống ngân hàng được xây dựng trên lòng tin, khách hàng gởi tiền vào ngân hàng tin tưởng rằng ngân hàng sẽ trả lãi cộng với tiền gốc của mình đúng kỳ hạn. Ngân hàng đem tiền huy động được đem cho vay cũng tin tưởng rằng khách hàng sẽ trả được nợ (để có niềm tin đó thì ngân hàng sẽ phải thẩm định dự án và đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng trước khi cho vay).

Nếu như những người gởi tiền như Vietcombank mất niềm tin vào hệ thống ngân hàng nước ngoài mà mình đang gởi tiền, kéo theo hàng loạt các ngân hàng khác trong nước rút tiền về thì sẽ gây khó khăn thanh khoản cho các ngân hàng đang ở trong tình trạng cực kỳ khó khăn do thiếu tiền mặt.

Nếu như các ngân hàng khác trên thế giới cũng thiếu niềm tin như Vietcombank và đồng loạt rút tiền về thì chắc chắn khủng hoảng thanh khoản sẽ xảy ra và hệ thống tài chính thế giới sẽ sụp đổ.

Thế nên, thông tin Vietcombank và các ngân hàng khác của VN đồng loạt rút tiền về trong bối cảnh hiện nay xét về toàn cục không phải là một thông tin tốt đẹp cho hệ thống ngân hàng trên thế giới. Nó cho thấy rằng ngay cả bản thân Vietcombank cũng đang tỏ ra thiếu niềm tin vào hệ thống ngân hàng trên thế giới.

Khi niềm tin không còn thì chắc chắn cả hệ thống ngân hàng trên thế giới sẽ kéo nhau sụp đổ.

Khi cầu lớn cung trong ngắn hạn: Gạo tăng giá

Giá gạo tăng chóng mặt, chỉ trong một đêm giá đã chênh lệch từ 4000-5000/kg. Sự biến động của giá cả luôn là “miếng bánh béo bở” cho các nhà đầu cơ, những người kiếm lời từ việc chênh lệch giữa giá mua và giá bán.

Xét trên góc độ cung - cầu thì về mặt DÀI HẠN hoàn toàn không có chuyện thiếu hụt gạo khi mà sản lượng lúa của đồng bằng lớn nhất VN không hề suy giảm. Việc cấm xuất khẩu gạo của chính phủ sẽ góp phần đảm bảo an ninh lương thực của VN.

Tuy nhiên về mặt NGẮN HẠN thì đã xảy ra việc cầu tăng vọt trong khi nguồn cung vẫn giữ mức ổn định. Khi cầu lớn hơn cung gấp nhiều lần thì chắc chắn giá buộc phải tăng để cân bằng cung - cầu.

Nguyên nhân cầu gạo tăng vọt bởi vì TIN ĐỒN đã tích tụ đủ năng lượng cần thiết: những thông tin về khủng hoảng lương thực trên thế giới được báo chí đăng tải liên tục trong thời gian vừa qua đã khiến cho người dân tin rằng thế giới bị thiếu gạo, cho đến sáng thứ bảy vừa rồi khi mà Tuổi Trẻ (tờ báo có lượng độc giả lớn nhất nhất, ước tính mỗi ngày có khoảng 2,5 triệu người dân VN đọc báo TT) đăng tải thông tin hai siêu thị của Mỹ phải hạn chế lượng gạo bán ra thì “niềm tin thiếu gạo” mới thật sự bùng nổ, nói cách khác đó là năng lượng dể tin đồn xảy ra đã vượt ngưỡng cần thiết.

Khi mà một lượng không nhỏ các bà nội trở biến nỗi lo sợ thiếu gạo thành hành động tích trữ gạo bằng cách đổ xô đi mua gạo ở các siêu thị khiến cho cầu về gạo tăng vọt buộc các siêu thị phải hạn chế lượng gạo mỗi người được mua.

Tin đồn gạo tăng giá, thiếu gạo lập tức lan truyền với tốc độ chóng mặt. Những nghiên cứu trong xã hội học cho thấy rằng, không thể xác định được nguồn gốc của tin đồn, chỉ biết rằng mọi tin đồn đều có nguyên nhân của nó. Chẳng hạn như tin đồn tăng giá xăng trước đây có nguyên nhân là do báo Tuổi Trẻ (cũng tờ báo lớn nhất nước này) đăng tin giá xăng tăng lên 17.000 đồng/lit.Ngay lập tức, cầu về gạo lập tức tăng vọt trong cả nước đồng thời với tốc độ lan truyền tin đồn.

Nếu xét về quy luật cung - cầu của kinh tế học thì không có gì ngạc nhiên khi những người bán gạo liên tục tăng giá. Đơn giản bởi vì việc tăng giá sẽ giúp hạn chế cầu và khuyến khích cung. Thử giả sử nếu không tăng giá thì ngay lập tức lượng gạo trong kho sẽ bị vét sạch sành sanh.

Giá cả luôn là tín hiệu tốt nhất góp phần bình ổn thị trường.

Việc lên án những người bán gạo gìm hàng, những nhà đầu cơ gạo là không cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay. Họ chỉ đơn giản thực hiện mọi việc theo đúng những quy luật kinh tế.

Giải phát tốt nhất để bình ổn giá gạo là tăng cung gạo một cách từ từ và liên tục cho đến khi giá ổn định trở lại. Chỉ cần các siêu thị do nhà nước chi phối bán gạo với giá thấp hơn giá thị trường 500-1.000 đồng và đảm bảo đủ gạo để bán thì ngay lập tức giá trên thị trường sẽ chững lại bởi vì sức cầu đã bị các siêu thị hút hết.

Khi đó để có thể cạnh tranh với các siêu thị nhà nước, thị trường gạo tư nhân sẽ giảm giá gạo ngang bằng hoặc thấp hơn so với giá của siêu thị để hút khách. Các siêu thị lại tiếp tục giảm giá gạo xuống thấp hơn 500-1.000 đồng, và cứ thế quá trình giảm giá sẽ tiếp diễn cho đến khi giá gạo giảm đến mức hợp lý để cân bằng cung - cầu.

Khi giá giảm từ từ và liên tục đồng thời đảm bảo nguồn cung thì sẽ giải tỏa tâm lý VN thiếu gạo của người dân. Khi tất cả mọi người thấy rằng giá ngày hôm sau thấp hơn ngày hôm trước, đồng thời lúc nào cũng mua được gạo thì họ sẽ “hoãn” nhu cầu mua gạo hiện tại lại để ngày hôm sau có thể mua được gạo với giá rẻ hơn.

Thị trường gạo sẽ trở lại là thị trường của người mua chứ không phải là thị trường của người bán như hiện nay. Giá gạo lúc đó sẽ bình ổn trở lại.

Cuộc tranh luận về chính phủ và thị trường

1. Sự kiểm soát của CP đối với thị trường có cần thiết không và nếu cần thiết thì nên ở mức độ nào là vấn đề mà từ các triết gia thời cổ đại như Plato cho đến các kinh tế gia hiện đại như Hayek tranh luận không ngớt. Tất cả các nước trên thế giới đều vấp phải những khó khăn to lớn trong việc tạo ra sự cân bằng hợp lý giữa thị trường và chính phủ. Liệu việc để cho thị trường tự do hoạt động dưới sự điều tiết hiệu quả của “bàn tay vô hình” sẽ giúp cho nó vận hành ổn định và hiệu quả hơn hay là cần đến “bàn tay hữu hình “của nhà nước để “chấn chỉnh” những dấu hiệu mất ổn định của thị trường.

Ở VN tranh luận về vấn đề chính phủ và thị trường đã, đang và sẽ là một vấn đề nóng bỏng. Mới đây, sự can thiệp của chính phủ vào thị trường chứng khoán còn non trẻ của VN đã dấy lên những cuộc phản đối của các kinh tế gia ủng hộ thị trường, những người cho rằng chính phủ không nên áp đặt những mệnh lệnh hành chính vào thị trường, hãy để nó tự do hoạt động bởi như thế thì nó mới có thể phát huy tính hiệu quả và nhất là không bóp méo những hoạt động của thị trường chứng khoán. Điển hình cho quan điểm đó là chuyên gia kinh tế Nguyễn An Nguyên với bài phân tích Thị trường chứng khoán và bàn tay hữu hình.

Trong bài viết, nghiên cứu sinh tiến sĩ, chuyên ngành lý thuyết chiến lược và kinh tế chính trị học hiện đại, đại học Rice - Mỹ, cho rằng Cung - cầu chứng khoán là một quan niệm sai lầm và cho rằng quy luật vận hành của TTCK là quy luật lợi nhuận kì vọng. Khi đó, các nhà đầu tư “chỉ mua cổ phiếu khi tin rằng giá hiện tại của nó nhỏ hơn thu nhập kì vọng (giá cổ phiếu cộng với cổ tức) (tức là giá cổ phiếu đang “rẻ”), và bán ra trong trường hợp ngược lại”.

Dựa trên sự phê phán quan niệm sai lầm của những nhà điều hành thị trường, An Nguyên cho rằng việc chính phủ can thiệp trực tiếp vào TTCK trong qua SCIC sẽ gây ra những hệ lụy nghiêm trọng và lâu dài. Điều đáng nói là quan điểm của ủng hộ thị trường tự do được rất nhiều kinh tế gia VN ủng hộ thông quan những bài bình luận sau đó.

Những ai theo dõi diễn biến các bài viết về phân tích thị trường chứng khoán của các chuyên gia chắc chắn sẽ rất thú vị khi xuất hiện bài viết Can thiệp lành mạnh và vai trò của Chính phủ xuất hiện trên CafeF với nhiều luận điểm ủng hộ việc can thiệp của chính phủ và phản bác lại quan điểm của An Nguyên. Sự thú vị nằm ở chỗ tác giả bài viết Vũ Quang Đông cũng còn rất trẻ, lại đang là NCS chuyên ngành tài chính, tiền tệ - ĐH Georgetown, Mỹ, có thể nói là một “kỳ phùng địch thủ” của lý thuyết gia Nguyễn An Nguyên.

Quang Đông khẳng định lại rằng trên TTCK tồn tại quy luật cung cầu bởi vì “trong kinh tế học hiện đại, tài sản là bất kể thực thể nào có thể lưu giữ được giá trị và thực thi được quyền giao dịch trong tương lai. Do vậy, chứng khoán, tiền, bất động sản, rượu quý hiếm, kim cương, vàng,..đều có thể được coi là tài sản (Krugman và Obstfeld, trang 317) .

Trên bất kỳ một thị trường nào, việc diễn ra hành vi trao đổi tài sản bởi vì các tài sản đó có cung và có cầu, tức là có người bán và người mua và cung cầu vẫn được hình thành từ giá trị ích lợi mang lại cho mỗi đơn vị tài sản bán ra (cung) và mua vào (cầu) . Quy luật cung cầu trên thị trường chứng khoán vận động tương tự như trên thị trường ngoại hối và thị trường vàng”.

Với quan điểm trên, tác giả ủng hộ việc chính phủ “can thiệp lành mạnh” vào TCCK thông qua SCIC và cho rằng đã có sự “sai lầm khi cho rằng UBCK vừa đá bóng, vừa thổi còi hoặc Chính phủ can thiệp thô bạo vào thị trường chứng khoán vì SCIC tham gia dưới một khung pháp lý thiết lập trước và UBCK khác với SCIC”.

(Bài viết chưa hoàn chỉnh)

Hiểu kinh tế trong một bài học

Các sinh viên kinh tế, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, hay thậm chí những người dân bình thường nhưng quan tâm đến các lĩnh vực kinh tế thường xuyên bị lạc lối trong mê hồn trận những những thông tin kinh tế. Trong mê hồn trận đó có vô vàn những bài viết phân tích, nhận định, bình luận rất nhiều vấn đề kinh tế khác nhau của nhiều tác giả, họ phát biểu với những tư cách rất khác nhau, có khi là những chuyên gia kinh tế độc lập, có khi là những nhà hoạch định chính sách, nhiều lúc lại là những người đại diện cho một nhóm lợi ích nào đó.

Người đọc luôn tỏ ra bối rối, băn khoăn của trước những lý lẽ kinh tế được đưa ra một cách hợp lý, giàu tính thuyết phục để biện minh cho một chính sách kinh tế nào đó như tăng thuế nhập khẩu bảo hộ ngành công nghiệp ô tô sẽ giúp sản xuất ra nhiều ô-tô hơn trong nhiều năm nữa, giảm biên độ giao dịch sẽ giúp thị trường chứng khoán phát triển tốt hơn… Câu hỏi mà bạn đọc thường tự hỏi khi đối diện với những lời lý giải tưởng chừng như rất lô-gic đó là những lý giải kinh tế đó đúng hay sai?

Hiểu kinh tế trong một bài học, cuốn sách giáo khoa về kinh tế học hàng đầu trong việc trang bị những kiến thức nền tảng về kinh tế thị trường ra đời năm 1946 của Henry Hazlitt sẽ giúp cho độc giả vượt qua những bối rối ban đầu đó. Những phân tích rõ ràng của tác giả cho thấy rằng có rất nhiều lý giải kinh tế mang tính ngụy biện nhằm mục đích biện minh cho những chính sách mang lại lợi ích của một nhóm đặc quyền đặc lợi nào đó bằng cách chỉ mang đến cho độc giả “một nữa ổ bánh mì” và dấu nhẹm “một nửa ổ bánh mì” còn lại.

Giá trị làm cho cuốn sách đã trở thành kinh điển, được nhiều kinh tế gia tán tụng ở chỗ nó giúp cho người đọc tự mình tìm ra được “một nửa ổ bánh mì” đã bị giấu đi. Bằng những phân tích, lý giải đơn giản và dễ hiểu, tác giả đã vạch trần những ngụy biện như được che dấu một cách chặt chẽ dưới những luận điểm kinh tế tưởng chừng như rất đúng đắn và hợp lý. Sau khi đọc xong những lập luận của tác giả, người đọc có thể lấy nó làm khuôn mẫu để áp dụng cho vô vàn những tình huống khác nhau. Đó thật sự là điểm nổi bật và là thành công của tác giả.

Không phải ngẫu nhiên khi F. A. Hayek, nhà kinh tế nổi tiếng, từng đoạt giải Nobel không tiếc lời khen ngợi cuốn sách này: “Một tác phẩm xuất sắc. Nó nói lên chính xác những điều cần được nói với sự can đảm và chính trực hiếm thấy. Tôi không biết có cuốn sách nào của thời nay mà một người bình thường có thể học được từ đó nhiều chân lý căn bản về kinh tế như thế, trong một thời gian ngắn đến thế.

Sự thật là chỉ trong một bài học tác giả đã giúp cho người đọc thấu hiểu được những vấn đề cốt lõi nhất của kinh tế học cơ bản. Bài học đó được tác giả đúc kết thành một câu rất ngắn gọn nhưng cũng chính là điểm quan trọng nhất để phân biệt được một phân tích kinh tế tốt và một phân tích kinh tế tồi: Kinh tế học bao gồm việc xem xét không chỉ những tác động ngắn hạn mà cả những tác động dài hạn của bất kỳ một chính sách hay biện pháp kinh tế nào; nó bao gồm việc dõi theo những tác động của chính sách đó không chỉ đối với một nhóm lợi ích nhất định mà với tất cả các nhóm trong xã hội.

Bài học trên đã nêu ra hai vấn đề cốt lõi của kinh tế học. Một là, phải xem xét tác động của bất kỳ một chính sách nào cả trong ngắn hạn và dài hạn, chỉ chăm chăm vào những tác động trước mắt mà thiếu sự nhìn xa trông rộng có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong dài hạn kiểu như ăn chơi phung phí ngày hôm nay mà không nghĩ tới ngày mai. Hai là, phải xem xét tác động của chính sách lên tất cả các nhóm trong xã hội, việc áp đặt thuế nhập khẩu ô-tô sẽ mang lại lợi nhuận lớn cho ngành sản xuất ô-tô trong nước nhưng làm thiệt hại cho toàn bộ những người muốn mua ô-tô vì phải trả một giá quá cao.

(Bài viết chưa hoàn chỉnh)


Hoạt động của room
15.07.2010
02.07.2010
+
(2) bình luận: Nhật Phương, someone
19.04.2010
+
(16) bình luận: baochan, Mèo Già, manh cuong
28.03.2010
(nguyenducthanh - 05.07.2008)
+
(1) bình luận: OSBORNEALISON34
24.02.2010
(truongtrivinh - 15.01.2008)
+
(12) bình luận: nguyen dinh tung, Pham duy mai, quyen ha
02.01.2010
+
(68) bình luận: remingtons, kaedeemill, propecia oral
04.11.2009
29.09.2009
Bạn bè nhận xét
Chưa có nhận xét nào...