read and travel
scarlett: read --> travel --> write --> read ... hihi
chip: Viết blast mới đi anh Thành. Nhấp đúp chuột vào ...
Room: BlogCafeF
Số bình luận:  108
Số bài viết:     17
Trả lời bạn xem truyền hình
magnify

Trả lời về một số vấn đề kinh tế trên InfoTV, tối 4/7/2008

Copyright by Em Chíp (tác nghiệp bằng máy di động nên hơi mờ, nhưng công nhận là nhanh tay)

Điều chỉnh tỷ giá: tại sao lúc này và rồi sẽ ra sao?

Sáng nay người bạn gọi điện nói: “bạn em ở Vũng Tàu mua được đô từ ngân hàng rồi, đúng tỷ giá liên ngân hàng 16.8. Cu cậu sướng quá vì đỡ được mấy trăm triệu [nếu phải mua ở mức như cũ].”

Tôi gọi điện hỏi anh bạn làm nhập khẩu ở Hà Nội, anh cũng xác nhận đã mua được đô để trả tiền hàng cho bên nước ngoài rồi. Giá 17.5.

Trước đó mấy hôm (lúc đang ở Ý), nhận được tin offline của người bạn làm quản lý một công ty chứng khoán, hỏi: “bọn nước ngoài bỗng nhiên bán trái phiếu ra ồ ạt để ôm tiền đồng làm gì nhỉ?”

Tất cả những sự kiện trên đều đã được báo chí phản ánh và giải thích phần nào cả rồi, có thể tạm liệt kê theo thứ tự thời gian như sau:

1. Giá đô trên chợ đen cao hơn giá liên ngân hàng nhiều, và tình hình thị trường ngoại tệ bên ngoài rất lộn xộn (có lúc chỉ mua vào, không bán ra, có lúc ngược lại). Nhà nước can thiệp mạnh về hành chính.

2. Do lãi suất cơ bản tăng cao, giá trị trái phiếu chính phủ (và mọi loại trái phiếu khác) trở nên rất thấp, nên các tổ chức nước ngoài bán ra ồ ạt để cắt lỗ hoặc đáp ứng nhu cầu thanh khoản (theo báo chí). Theo nguồn tin cá nhân, lượng bán ra trị giá khoảng nửa tỷ USD.

3. NHNN điều chỉnh mức liên ngân hàng lên 2%, đồng thời đáp ứng nhu cầu USD cho hệ thống NHTM (có lẽ đã bơm USD ra một lượng khá lớn, vì đến  các doanh nghiệp nhỏ cũng đều nhận được lượng USD cần thiết).

Có thể sâu chuỗi những sự kiện này như sau:

1. Có thể NHNN nhận thấy khối nước ngoài đã bán trái phiếu và nắm giữ một lượng lớn tiền Việt. Sớm muộn gì họ cũng đổi ra USD để giữ hoặc chuyển ra những nơi thích hợp với kế hoạch kinh doanh của họ. Có thể NHNN nhận định rằng nếu để họ gom đô trên thị trường tự do (trong hoàn cảnh khó mua đô trong ngân hàng như hiện nay) thì sẽ gây một sự méo mó rất lớn trên thị trường ngoại hối. Kết quả là người dân không biết đâu mà lần (vì thấy giá đô tự do bỗng tăng vọt), nên sẽ ùa đi mua đô gây nên những đợt sốc không cần thiết. Do đó, tốt hơn hết là bơm USD ra để đáp ứng nhu cầu thông qua hệ thống liên ngân hàng để cho vừa ổn định vừa dễ kiểm soát (kiểu như “tiên hạ thủ vi cường”). Đồng thời nâng giá thêm 2% để có lợi cho mình (NHNN-người bán) mà cũng không có gì là bất hợp lý quá đáng.

Như thế, NHNN cũng gỡ được phần nào. Vì trước đây khi vào VN, các đối tác nước ngoài cũng bán đô ra, và NHNN đã mua vào được với giá khá rẻ. Bây giờ bán ra với giá cao hơn thì cũng là tốt. Mặc dù tôi cho là mức đó chưa bù đắp được phần mất giá của tiền Việt so với USD. Lạm phát đã vào khoảng 20% kể từ khi mua đô với giá 15.5 cách đây một năm chẳng hạn, thì lúc này nên bán ra với giá khoảng 18.5 mới phải (tăng thêm 20%).

2. Một tình huống khác, mà khả năng xảy ra rất thấp, là khu vực nước ngoài sau khi bán trái phiếu ra, thu tiền Việt về và muốn đổi sang USD. Họ có thể vận động NHNN thực hiện chính sách bơm USD ra với giá “phải chăng”, như mức gần 17 như hiện nay chẳng hạn. Để họ có thể đổi hết phần tiền Việt đang nắm (khoảng nửa tỷ USD) sang USD. Sau khi đã hoán chuyển xong, có thể NHNN ngừng bơm USD ra, giá USD lại từ từ dâng lên. Bài toán này có thể hiểu được nếu ta giả định khối ngoại có thể gây ảnh hưởng lên chính sách của NHNN thông qua các hoạt động lobby.

Trong cả hai tình huống, thì dường như việc bơm USD ra hiện nay mang tính ngắn hạn (đối phó với khoản tiền khổng lồ do bán trái phiếu CP của khu vực nước ngoài). Một đằng là NHNN chủ động làm để tránh gây méo mó thị trường, một đằng là thụ động do bị lobby. Tuy nhiên, một ước tính sơ bộ là nếu tiền Việt mất giá 20% so với USD (quy đổi ngang bằng sức mua thông qua lạm phát) thì hiện nay giá cân bằng của đồng USD phải là khoảng 18.5-19.0. Đó còn là chưa tính tới các vấn đề liên quan đến thâm hụt thương mại.

Do đó, tôi cho rằng ở mức dài hạn hơn một chút (từ nay đến cuối năm), giá USD vẫn có thể nên được điều chỉnh về mức cân bằng. Kể cả là trong hệ thống liên ngân hàng, vì như thế NHNN bơm USD ra cũng thu về được một khoản tiền Việt xứng đáng với giá trị thực.

 

(Những suy nghĩ trên chỉ là các giả thuyết của cá nhân, mang tính tạm thời, và chưa tính tới ảnh hưởng đến và từ khu vực doanh nghiệp. Theo trả lời của Thống đốc Nguyễn Văn Giàu đăng trên VnEconomy hôm nay thi tình hình từ nay đến cuối năm là khá tốt (như cán cân thanh toán), chi cần chờ sự khẳng định của thực tế theo thời gian.)

Bàn thêm một chút về tăng lãi suất và giảm giá VND (bài trên SGTT)

Một version khác đôi chút so với phỏng vấn của Linh, đăng bên SGTT của Lệ. Biên tập rất nhanh và tốt. Nguồn xem ở đây.

 

Ảnh hưởng của động thái tăng lãi suất cơ bản và giảm giá tiền đồng

Một số người cho rằng tăng lãi suất có tác dụng làm tiền đồng mạnh lên tương đối, trong khi lại giảm giá tiền đồng 2% thông qua điều chỉnh tỷ giá là hai động thái mâu thuẫn nhau. Trên thực tế, hai động thái này là đồng bộ và cùng có tác dụng củng cố sức mạnh của tiền đồng

Kể từ ngày 11.6, một loạt các quyết định của thống đốc ngân hàng Nhà nước có hiệu lực như điều chỉnh lãi suất cơ bản từ 12 lên 14%/năm (lãi suất tái cấp vốn từ 13 lên 15%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 11 lên 13%/năm); yêu cầu các tổ chức tín dụng ngừng thu phí liên quan đến hoạt động cho vay; điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND và USD từ mức 16.139 đồng/USD áp dụng cho ngày 10.6 lên mức 16.461 đồng/USD áp dụng cho ngày 11.6 (giảm giá đồng tiền Việt 2%).

Tiền đồng mạnh lên

Thứ nhất, việc nâng lãi suất cơ bản qua đó khiến các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng lãi suất huy động giúp tiền Việt trở nên hấp dẫn hơn. Chênh lệch lãi suất cao hơn giữa tiền đồng và các ngoại tệ khác và vàng sẽ khiến người dân có khuynh hướng giữ tiền đồng thay vì đổi ra USD hoặc mua vàng, hay thậm chí còn đổi ngoại tệ và vàng ra tiền đồng để gửi vào ngân hàng. Như thế, sức ép giảm giá đồng tiền sẽ giảm.

Thứ hai, việc giảm giá tiền đồng 2% khiến tỷ giá danh nghĩa tiến gần tới tỷ giá thực hơn, do đó nguy cơ tỷ giá có bước thay đổi mạnh, đột ngột sẽ giảm bớt. Với hai chính sách được áp dụng cùng một lúc như vậy, sức hấp dẫn của tiền đồng sẽ tăng lên tương đối so với các tài sản khác.

Tuy nhiên, sự thành công của hai chính sách phụ thuộc rất nhiều vào các chỉ số vĩ mô và niềm tin của người dân và giới doanh nghiệp vào tương lai trước mắt của nền kinh tế. Chẳng hạn, nếu lạm phát tháng 6 không có khuynh hướng giảm, hoặc có thông tin xấu từ hệ thống ngân hàng, khiến người dân tiếp tục bi quan về nền kinh tế hoặc không tin vào sự bền vững của hệ thống ngân hàng nơi họ gửi tiền, thì hai chính sách trên có thể trở nên vô hiệu, và ngân hàng sẽ không thể hút tiền từ bên ngoài vào hệ thống. Do đó, rất cần có sự cung cấp thông tin đầy đủ về những thành quả chống suy thoái kinh tế của Chính phủ trong thời gian qua. Những động thái đồng bộ này có thể coi là cú hích cần thiết, một cơ hội thích hợp, để đưa hệ thống trở lại vị trí cân bằng.

Tác động tiêu cực đến doanh nghiệp nhỏ

Từ góc độ của hệ thống ngân hàng nói riêng và thị trường vốn nói chung, giá vốn sẽ tăng vì chi phí huy động tăng. Thêm vào đó, các ngân hàng bị buộc phải từ bỏ các khoản thu từ phí suất, mà thực chất là một cách tăng lãi suất cho vay theo cung cầu của thị trường, nên sẽ gặp khó khăn hơn về doanh thu. Mặc dù lãi suất cho vay ra có thể tăng thêm 3%, nhưng lãi suất huy động có thể cũng phải tăng một lượng tương tự do áp lực cạnh tranh, nên chênh lệch lãi suất danh nghĩa hầu như không đổi. Trong khi đó, phần doanh thu “mềm” từ phí suất, đôi khi lến tới 4 – 5%, bị cắt đứt hẳn sẽ ảnh hưởng tới nguồn thu của ngân hàng.

Một phản ứng có thể của giới ngân hàng là họ sẽ ưu tiên các khoản vay lớn hơn để giảm chi phí giao dịch. Do đó, trong thời gian tới, giới doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể sẽ khó tiếp cận các khoản vay hơn.

Kết quả là, doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ phải chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực nhất của các chính sách chống suy thoái kinh tế hiện nay. Họ khó tiếp cận nguồn tín dụng hơn, hay nói cách khác, chi phí vốn của họ sẽ tăng. Trong khi đó, do quy mô nhỏ và phân tán trên thị trường, khả năng điều chỉnh giá tăng theo nhịp của lạm phát là khó hơn các doanh nghiệp lớn, có tính độc quyền và sức mạnh thị trường lớn. Có thể nói, họ bị ép giữa hai gọng kìm của tăng chi phí đầu vào và mức giảm tương đối doanh thu.

Vì lý do này, Chính phủ cũng cần xem xét các biện pháp đồng bộ, thích hợp để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian tới.

 

 

Về động thái tăng lãi suất và giảm giá tiền Việt 2%

Bài trả lời phỏng của phóng viên Duy Linh, CafeF:

Doanh nghiệp có sức mạnh thị trường sẽ lướt trên lạm phát

Doanh nghiệp có sức mạnh thị trường sẽ lướt trên lạm phát

(CafeF) - “Lãi suất tăng lên để ổn định đồng tiền hầu như có thể đoán trước được, và sẽ không ảnh hưởng nhiều tới các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường….”

Ngân hàng nhà nước vừa có động thái tăng lãi suất cơ bản lên 14% đồng thời điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên mức 16.461 VND/USD. CafeF vừa có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Đức Thành một số khía cạnh về vấn đề này

NHNN vừa mới quyết định tăng lãi suất cơ bản lên 14% đồng thời điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND và USD từ mức 16.139 VND/USD lên mức 16.461 VND/USD áp dụng cho ngày 11/6/2008. Ông có nhận định gì về hai động thái này?

Tôi nghĩ việc tăng lãi suất cần được nhìn trong bối cảnh chung hiện nay trên các thị trường khác, đặc biệt là thị trường ngoại hối. Điều cần lưu ý là đồng thời với quyết định tăng lãi suất cơ bản, NHNN cũng tuyên bố giảm giá đồng tiền Việt 2% (từ 16.139 về 16.461 VND/USD). Như thế, theo quan điểm của tôi, hành động tăng lãi suất cơ bản dường như nhằm hướng tới ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam nhiều hơn là kiểm soát vấn đề thu phí tràn lan hiện nay. Tất nhiên một hành động chính sách có thể hướng tới nhiều mục đích cùng một lúc.

Nếu nâng lãi suất cơ bản thêm 2% (và do đó là nâng trần huy động và cho vay thêm 3%), đồng thời siết chặt phí suất phụ thu trong các khoản tín dụng của ngân hàng, thì đồng nghĩa với việc hướng tới nâng lãi suất huy động là chủ yếu, còn lãi suất cho vay có khuynh hướng bị siết lại. Như thế các ngân hàng sẽ gặp khó khăn hơn do chênh lệch lãi suất trong kinh doanh của họ giảm.

Tôi nghĩ phí suất có vai trò như một tấm đệm bù đắp cho sự khác biệt giữa mức lãi suất hành chính (áp đặt) và mức thị trường (theo cung cầu vốn). Việc loại bỏ tấm đệm này có thể giúp giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp, nhưng đồng thời có thể khiến các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn khó hơn vì khi chênh lệch lãi suất thấp và hầu như cố định, ngân hàng sẽ có khuynh hướng ưu tiên những khoản vay lớn để giảm chi phí.

Điều quan trọng hơn, theo tôi, dường như nằm ở chỗ NHNN muốn tăng khoảng cách lãi suất tiền gửi giữa đồng Việt Nam và đồng USD nhằm giảm tác động đô-la hoá và tránh những diễn biến xấu đối với đồng tiền Việt. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ việc tăng lãi suất như thế có hút được tiền Việt vào ngân hàng, và khuyến khích người dân chuyển từ USD, vàng và các tài sản khác về tiền Việt Nam (và gửi vào ngân hàng) hay không, là một vấn đề cần được quan sát chặt chẽ.

Theo nguồn tin cá nhân của tôi, trong thời gian trước, khi lãi suất tăng từ 10% lên 12% hoặc hơn, lượng tiền vào ngân hàng tăng mạnh. Nhưng với những diễn biến gần đây, khi lãi suất tăng lên nữa, lượng tiền không còn tăng mạnh. Có nhiều giả thuyết để lý giải hiện tượng này, tuy nhiên, chúng ta cần thêm thời gian để đi đến những kết luận chính xác.

Lãi suất cho vay sẽ tăng lên mức tối đa 21%/năm, nhiều người cho rằng với mức lãi suất này tỉ suất lợi nhuận của doanh nghiệp không thể tăng theo kịp. Liệu các doanh nghiệp đang phải chịu đựng lãi suất cho vay quá cao?

Nếu các doanh nghiệp có thể tăng giá theo cùng mức lạm phát, thì về nguyên tắc đây không phải là một vấn đề lớn. Vì lạm phát kỳ vọng của năm nay là hơn 20%, do đó, với lãi suất danh nghĩa khoảng 21% thì lãi suất thực không phải là cao.

Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp có khả năng tăng giá rất khác nhau, nên sẽ phân ra thành hai tuyến. Các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường thường điều chỉnh được giá lướt trên bề mặt của lạm phát, và do đó sẽ tồn tại được. Nhưng các doanh nghiệp có ít sức mạnh thị trường, và đó thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thường không làm được điều này, và họ sẽ rất khó khăn trong vòng 6 tháng – 1 năm tới. Hơn nữa, lạm phát cao như hiện nay làm môi trường kinh doanh bất ổn hơn trước đây nhiều, nó khiến việc dự báo để ra các kế hoạch kinh doanh khó khăn hơn trướcnhiều.

Dù thế nào, trong khoảng sáu tháng đến một năm tới, nợ xấu trong khu vực ngân hàng sẽ có khuynh hướng tăng. Do đó, đi liền với các chính sách này Thủ tướng cũng đã có chỉ đạo rà soát chặt chẽ các khoản tín dụng. Đó là những việc làm đồng bộ và cần thiết.

Nhiều ý kiến cho rằng các thông báo tăng lãi suất của NHNN khá đột ngột khiến các doanh nghiệp không dự báo được chính sách lãi suất liên tục biến động. Anh có ý kiến gì về vấn đề này?

Trong tình hình khó khăn hiện nay, sẽ xuất hiện nhiều chính sách mới. Nói là đột ngột chưa chắc đã đúng, vì nếu doanh nghiệp hiểu rõ tình hình vĩ mô, họ sẽ biết sớm hay muộn nhà nước sẽ phải áp dụng một số chính sách. Do đó, tầm nhìn và tri thức của lãnh đạo doanh nghiệp trong thời điểm này là rất quan trọng. Phải qua sóng gió mới biết ai lái thuyền giỏi. Tôi tin là đối với các doanh nhân có tầm nhìn, những động thái chính sách vừa rồi là có thể nhìn thấy trước.
Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi!

Huỳnh Duy

NHNN nên thận trọng trước diễn biến của tỷ giá USD

Trao đổi nhanh với VnEconomy trước diễn biến đột ngột của tỷ giá:

(Xem bài đã đăng (chính thức) ở đây, bài trong blog này là bài gốc trước khi có biên tập) 

P.V: Tỉ giá USD đã lên tới mức 17.000 đồng/USD. Nguyên nhân đẩy tỉ giá lên cao theo phân tích của NHNN là do “cầu ngoại tệ vẫn tiếp tục cao, chủ yếu do nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp để nhập khẩu, trong khi nguồn cung chưa được cải thiện, khiến cho cung cầu ngoại tệ tiếp tục mất cân đối”.

Trong 5 tháng đầu năm VN đã nhập siêu 14,4 tỷ USD.
Lãi suất huy động USD của các ngân hàng tăng lên mức 7,5%/năm. Trong khi FED liên tục cắt giảm lãi suất thì hành động này của các ngân hàng khá bất thường.

Một vài vấn đề mong anh lý giải giúp:

1. Tỉ giá USD liên tục tăng cao như hiện nay có đáng lo ngại không? Vì sao tỉ giá lại thay đổi nhanh đến chóng mặt như vậy?

Việc tỷ giá USD trong nước tăng nhanh từ mức 16.600 VND lên hơn 17.000 chỉ trong một ngày (26/5), trong bối cảnh đồng USD vẫn chưa có dấu hiệu cải thiện ở cấp độ toàn cầu, chắc chắn là một sự kiện bất thường.

Lý giải của NHNN là có thể hiểu được, vì gần đây chúng ta nhập siêu dữ dội hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, đồng tiền Việt yếu đi nhanh đến như vậy không nên chỉ coi là hậu quả của quá trình thâm hụt thương mại.

Điều đáng lo ngại là khi tỷ giá có khuynh hướng tăng vững chắc như vậy, thì khuynh hướng đô la hoá là không thể cưỡng lại được. Khi đô la hoá xảy ra, hay là việc rời bỏ tiền Việt để nắm giữ đồng USD và sử dụng đồng USD trong cất trữ giá trị và giao dịch, thì cầu về USD lại càng cao, và tỷ giá càng tăng và người ta càng muốn rời bỏ đồng VN để chuyển sang đồng USD càng nhanh càng tốt.

Kết quả là sẽ có một vòng xoáy tự tái tạo đẩy tỷ giá lên cao và khiến đồng USD trở nên khan hiếm hơn bao giờ hết. Những vòng xoáy này không nên chỉ coi đơn giản là kết quả của nhập siêu.

2. NHNN cần phải làm gì để bình ổn thị trường ngoại hối (mức độ chênh lệch giữa giá USD thị trường tự do và ngân hàng ngày càng nới rộng, các ngân hàng đang trong tình trạng thiếu đôla để cho vay).

Một phương pháp căn bản là NHNN phải bơm USD từ quỹ dự trữ ngoại hối ra để bình ổn thị trường. Sẽ sắp xuất hiện một trò chơi mạo hiểm, phụ thuộc vào động thái của NHNN.

Nếu NHNN âm thầm bơm USD ra với lượng đủ lớn, tỷ giá sẽ từ từ dịu xuống, và nếu NHNN có đủ tiềm lực, thời gian bình ổn là đủ dài và vòng xoáy đầu cơ USD có thể được cắt đứt.

Tuy nhiên, nếu NHNN để mặc tỷ giá tăng mà không có động thái gì rõ ràng, người ta có thể sẽ nghĩ NHNN đang có một kế hoạch khác, chẳng hạn như cố tình để đồng tiền Việt giảm giá nhằm tăng xuất khẩu và ngăn chặn nhập khẩu.

Trong trường hợp này tỷ giá tăng có tác dụng như một loại thuế nhập khẩu bảo hộ hàng nội địa đồng thời là thuế hỗ trợ xuất khẩu. Nếu người ta nghĩ như thế, họ sẽ thận trọng hơn vì tình hình đồng Việt sẽ được cải thiện khi nền kinh tế, sau một thời gian, sẽ thu lợi nhờ chính sách này.

Tuy nhiên, sẽ đặc biệt nguy hiểm nếu NHNN thể hiện rõ ý chí muốn ghìm giữ tỷ giá một cách lộ liễu thông qua việc bơm USD ra ồ ạt, hoặc tệ hại hơn là sử dụng mệnh lệnh hành chính. Khi ý muốn của NHNN đã phơi bày ra như vậy, khả năng xuất hiện một cuộc tấn công là hoàn toàn có thể. Giới đầu cơ quốc tế và trong nước sẽ theo dõi sát động thái của NHNN và ước lượng quy mô dự trữ ngoại hối quốc gia, để tấn công vào thời điểm thích hợp. Cuộc tấn công, nếu chiến thắng, mang lại một lợi nhuận khổng lồ. Do đó, động cơ của nó không phải là không có cơ sở.

Tôi cho rằng hơn bao giờ hết, NHNN phải thật thận trọng trong từng bước đối sách lúc này.

Sai lầm trong cơ sở kinh tế của chính sách “Trần lãi suất”

Nhân suy nghĩ và tìm hiểu tài liệu để trả lời mấy câu hỏi của phóng viên Duy Linh từ Báo Dân Trí, tôi nhận ra lập luận hiện nay về chính sách “trần lãi suất” là có rất ít cơ sở khoa học. Trong khi chưa liên lạc lại được với Duy Linh, tôi tạm post lên đây.

***

1. Trước tình hình thực tế hiện nay, ngân hàng nhà nước có nên bãi bỏ mức lãi suất trần 12% không?

Chính sách trần lãi suất là một ví dụ rất thú vị về một sai lầm trong lập luận kinh tế học.

Thứ nhất, nhiều người cho rằng trần lãi suất huy động sẽ giúp làm giảm lãi suất cho vay ra, và do đó khu vực doanh nghiệp sẽ được hưởng lãi suất vay vốn thấp tương ứng. Nhưng thực tế hoàn toàn không đơn giản như vậy, mà điều trái lại sẽ xảy ra. Lãi suất huy động thấp khiến khả năng thu hút vốn thấp. Kết quả là vốn cung ứng từ ngân hàng cho khu vực kinh doanh trở nên khan hiếm. Khi vốn phục vụ kinh doanh khan hiếm, thực tế lãi suất cho vay có khuynh hướng tăng lên, và nếu không có trần lãi suất cho vay, trên thực tế doanh nghiệp sẽ phải vay ở một mức cao hơn. Như vậy, mục đích giúp hạ lãi suất phục vụ kinh doanh không đạt được. Nhưng ngay cả khi lãi suất cho vay ra của Ngân hàng cũng bị đặt trần (chẳng hạn, bằng lãi suất huy động cộng thêm một tỷ lệ nhất định), thì như kinh tế học đã chứng minh, Ngân hàng (hoặc nhân viên tín dụng ở ngân hàng) vẫn có quyền lực thị trường với doanh nghiệp, và sẽ có khả năng gây sức ép để thu thêm các khoản thu ngoài lãi suất (như vẫn thường thấy trong các thị trường khan hiếm hàng, nhưng giá lại bị hạn trần). Về nguyên tắc, doanh nghiệp sẽ đồng ý trả thêm cả khoản này, chừng nào tổng chi phí phi lãi suất cộng chi phí lãi suất còn thấp hơn chi phí thực khi không đặt trần.

Thứ hai, cũng có nhiều người cho rằng điều này có lợi cho ngân hàng vì họ vừa trả lãi tiền gửi ở mức thấp và cho vay ra ở mức cao (chênh lệch lãi suất cao). Thực tế thì lợi nhuận bằng tích của độ chênh lệch lãi suất nhân với khối lượng vốn cho vay. Cho nên, với khối lượng vốn cho vay nhỏ do nguyên nhân như trên đã nói, thực tế lợi nhuận của ngân hàng có thể không tăng và thậm chí còn giảm. Chính vì thế mới có hiện tượng các ngân hàng gần đây buộc phải lách luật bằng cách tăng lãi suất huy động với tiền gửi không kỳ hạn lên đến gần mức trần. Đây quả là một việc vô tiền khoáng hậu. Điều ấy cho thấy, các ngân hàng cần tăng khối lượng vốn huy động và đem cho vay, chứ không cần độ chênh lệch mang tính cưỡng bức kia.

Do đó, tôi cho rằng việc trần lãi suất dẫn đến hai hệ quả đặc biệt nghiệm trọng: (1) tạo nên sự khan hiếm về vốn huy động, và đi liền với nó là doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng hơn, và (2) khiến lợi nhuận của khu vực ngân hàng suy giảm mạnh, và cùng với tình hình kinh doanh khó khăn (chẳng hạn do nợ xấu đang tăng nhanh cho vay chứng khoán và bất động sản), ngân hàng bị đẩy tới chỗ phải tìm cách tăng lợi nhuận bằng một phương pháp đặc biệt mạo hiểm là nâng lãi suất huy động đối với tiền gửi không kỳ hạn lên cao. Việc này giống hệt Indiana Jones phải đi trên dây qua miệng một vực lửa để đoạt lấy chiếc cốc đựng nước trường sinh, rồi quay lại cứu sống người cha đang bị trọng thương.

Do đó, tôi cho rằng nên tháo bỏ chính sách trần lãi suất ngay lập tức trước khi quá muộn.

2. Nếu bỏ mức lãi suất trần thì lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại sẽ tăng cao quá 150% lãi suất cơ bản 8,75%. Việc cho vay với lãi suất cao sẽ vi phạm luật Khoản 1, điều 476 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố đối với loại cho vay tương ứng”.

Ngân hàng nhà nước cần phải làm gì để tránh tình trạng này?

Luật là văn bản có tính ổn định cao và cần tôn trọng. Tuy nhiên, NHNN hoàn toàn có thể ứng xử linh hoạt bằng cách tăng lãi suất cơ bản. Lạm phát cao như hiện nay mà vẫn giữ lãi suất cơ bản như thế có lẽ là hơi cứng nhắc. Ở đây chúng ta nên nhìn thẳng vào thực tại nền kinh tế lúc này, rằng giữ vững hệ thống doanh nghiệp là điều khẩn thiết.

3. Xuất hiện những lo ngại cho rằng việc tăng lãi suất cho vay sẽ làm cho “giá vốn” đầu vào của các doanh nghiệp tăng lên làm tăng giá thành sản phẩm và qua đó làm tăng tỉ lệ lạm phát. Theo anh, lo ngại này có cơ sở kinh tế hay không?

Như trên đã phân tích, thực ra nếu bỏ trần lãi suất huy động, vốn huy động qua hệ thống NH sẽ nhiều hơn và do đó lượng cung ra cho doanh nghiệp nhiều hơn, áp lực trên giá vốn sẽ giảm. Giá vốn cao (về danh nghĩa) sẽ đóng góp vào mức tăng giá sản phẩm, nhưng sẽ chậm hơn mức tăng do lạm phát vì vốn chỉ là một trong các nhân tố sản xuất. Nhưng nhờ có nhiều vốn hơn, doanh nghiệp gia tăng sản xuất, cung hàng hoá nhiều hơn sẽ giúp giảm lạm phát.

Trong khuôn khổ một bài phỏng vấn tôi không thể đưa ra các chi tiết kỹ thuật cho các lập luận trên, nhưng thực tế thì những lý luận của tôi đều dựa trên lý luận của các nhà kinh tế Mỹ cách đây hơn 20 năm, khi họ vạch ra những điểm bất cập của Quy chế Q (Regulation Q) là quy chế trần lãi suất huy động hệt như ở ta hiện nay. Sau khi có những lập luận này, Quy chế Q đã được bãi bỏ.

Tài liệu tham khảo:

[Gilbert, Alton (1986), "Requiem for Regalution Q: What It Did and Why I Passed Away," Federal Reserve Bank of St. Louis Review, Feb, pp. 22-37]

(Gilbert, Alton (1986), “Lễ cầu hồn cho Quy chế Q: Nó đã làm gì và vì sao phải ra đi,” Tạp chí Ngân hàng dự trữ liên bang của St. Louis, Tháng Hai, trang 22-37)

=======================

Ghi chú: sau khi post bài này xong thì đọc được một loạt tin trong CafeF là Thủ tướng vừa bỏ trần lãi suất. Thế thì hóa ra mình lại thành vuốt đuôi mất rồi. :) ==> Biết thêm một loại rủi ro mới.

Kiến nghị liên quan đến thị trường vàng của VAFI là thiển cận và nguy hiểm

Trong mấy ngày vừa qua có tin VAFI (Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam) đề xuất một số chính sách liên quan đến vàng. Theo nguồn tin của VN Economy ngày 9/5/2008, nội dung đề xuất của VAFI có thể tóm tắt vào hai điểm chính như sau: nâng thuế nhập khẩu vàng lên cao và đóng cửa các sàn giao dịch vàng hiện hành.

Quan điểm trên của VAFI bộc lộ hai tính chất quan trọng sau: sự thiển cận trong lối tư duy và mối nguy hiểm tiềm tàng trong hậu quả chính sách (nếu nó có khả năng được thực thi, mặc dù khả năng này rất nhỏ).

Theo VAFI, do trong bốn tháng đầu năm, lượng vàng nhập khẩu đã lên tới 43 tấn, bằng một nửa khối lượng nhập khẩu trong cả năm 2007, với trị giá ước tính khoảng 1.2 tỷ USD. VAFI cho rằng với tốc độ nhập khẩu vàng như vậy sẽ khiến nhập siêu càng trầm trọng. Do đó, cần phải nâng thuế vàng lên từ 10-20% để hạn chế nhập khẩu và tăng thu ngân sách.

Trên thực tế, mối lo ngại về nhập khẩu vàng quá mức của VAFI là không có cơ sở vì hiện nay nhập khẩu vàng vẫn được kiểm soát chặt chẽ về hạn ngạch (70 tấn cho năm nay). Trong thương mại quốc tế, hạn ngạch có vai trò điều tiết tương tự như thuế nhập khẩu, nên việc nâng thuế là trùng lặp và không cần thiết.

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn nằm trong bản chất kinh tế của vấn đề.

Thứ nhất, nhu cầu nhập vàng của người dân, đơn vị kinh doanh và thậm chí cơ quan tiền tệ là có thật và chính đáng. Điều này phản ánh sự dịch chuyển tài sản được nắm giữ từ USD và các tài sản khác sang vàng để tối đa hoá lợi ích. Việc dịch chuyển này rất có ý nghĩa trong bối cảnh đồng USD diễn biến khó lường, cổ phiếu và bất động sản trong nước mất giá. Ngay cả với Ngân hàng Nhà nước (NHNN), việc dịch chuyển cơ cấu dự trữ ngoại hối theo hướng này cũng là tích cực.

Thứ hai, việc đánh đồng vàng nhập khẩu với hàng tiêu dùng, và do đó là một phần nguyên nhân làm xấu thêm cán cân thanh toán, là một nguỵ biện vụng về của VIFA. Thực chất vào thời điểm này vàng đang hội tụ đủ cả hai yếu tố ưu việt là tài sản lưu giữ giá trị và ngoại tệ mạnh có tính thanh khoản cao. Lưu ý rằng theo thông lệ quốc tế, dự trữ của NHNN được tính bao gồm cả ngoại tệ và vàng. Do đó, việc nhập khẩu một lượng vàng lên tới hàng tỷ đô la đi chăng nữa cũng không hề làm cán cân thanh toán xấu đi, vì về bản chất, đó chỉ là hành động đổi USD thành vàng. Về mặt kinh tế, thì việc này thậm chí còn cải thiện tính  bền vững của cán cân thanh toán, vì việc chuyển đổi làm dự trữ của một nước (nằm trong dân và trong NHNN) được tái cơ cấu theo hướng lành mạnh hơn (thoát dần khỏi  sự phụ thuộc vào đồng USD đang trở nên yếu và kém lành mạnh).

Thứ ba, việc đề xuất nâng thuế vàng lên cao đột ngột trong một khoảng thời gian ngắn (kết hợp với kiến nghị xoá bỏ các sàn giao dịch vàng), rõ ràng là không có thiện chí, nếu không muốn nói là ác ý, với thị trường vàng. Một phản ứng chính sách độc đoán như vậy sẽ gây ra những méo mó tai hại mà hậu quả dây chuyền chưa thể lường được đối với thị trường tài sản nói chung, và thị trường tài chính nói riêng, nơi VIFA được coi là có trách nhiệm đại diện một phần nào đó.

Đề xuất cấm các sàn giao dịch vàng đặc biệt phản ánh tư duy tiểu thương của nhóm tác giả. Thứ nhất, việc hình thành tự phát (chưa có tổ chức của nhà nước) của các điểm giao dịch hàng hoá là việc bình thường, nếu không muốn nói là phổ biến của nền kinh tế thị trường. Nếu nó tự tồn tại được và hoạt động sôi nổi, điều ấy phản ánh việc thành lập điểm giao dịch đã và đang thoả mãn đúng một nhu cầu xã hội. Nhà nước chỉ nên có vài trò giám sát nhằm bảo đảm các hoạt động diễn ra minh bạch và văn minh. Thứ hai, nếu chỉ đơn giản coi các sàn giao dịch vàng hiện nay là một sòng bạc hay ổ đầu cơ, thì cũng với lập luận phiến diện, nông cạn này, chúng ta đã có đủ lý do để đóng cửa thị trường chứng khoán từ giữa năm ngoái. Cuối cùng, việc đề xuất xây dựng các quy chế quản lý hoạt động trên sàn giao dịch vàng là cần thiết và đúng đắn, nhưng nó phải có tác dụng giúp các giao dịch diễn ra ngày càng nhiều và ổn định hơn, chứ không phải là triệt tiêu các giao dịch đó.

Không mấy khó khăn để nhìn ra mong muốn lộ liễu mang quyền lợi nhóm qua các kiến nghị của VAFI. Hẳn những nguời đề xuất mong muốn ngăn chặn dòng vốn tiếp tục chảy vào vàng, vì họ hy vọng nó sẽ chảy trở lại thị trường chứng khoán để vực giá cổ phiếu lên? Nếu họ không nghĩ như vậy, thì bỗng nhiên họ hăng hái muốn can thiệp vào thị trường vàng một cách đầy ác ý là vì lý do gì? Phải chăng họ đang thực sự âu lo cho cán cân vãng lai của tổ quốc? Nếu vì lý do thứ hai, thì như tôi đã thảo luận trên kia, tạm thời họ có thể gác mối lo sang một bên. Còn nếu vì lý do thứ nhất, như nhiều người đoán chắc, thì đó quả là một mong muốn rất ích kỷ, thiển cận, và ấu trĩ. Ích kỷ thì đã rõ, vì họ sẵn sàng bắt đa số dân chúng phải tốn tiền của hơn cho một mức giá vàng cao, chỉ vì mong muốn thu lại chút lợi ích từ giá cổ phiếu. Nông cạn là vì, ngay cả khi chính sách này được thông qua, chính những thành viên của VAFI cũng có thể sẽ bị tổn thương, vì những hậu quả mới chưa có tiền lệ của dòng vốn thặng dư đang lồng lộn chảy trong một môi trường ngày càng méo mó. Ấu trĩ là vì, họ nghĩ rằng các kiến nghị sách kiểu này giờ đây vẫn còn có thể khả thi.

Việc lựa chọn nắm giữ loại tài sản nào là quyền tự do của các nhà đầu tư, dựa trên mức giá, độ rủi ro, khả năng sinh lời và kỳ vọng của họ. Vì thế, việc sử dụng các thủ đoạn chính sách nhằm cưỡng ép họ phải rời bỏ loại tài sản này và buộc phải chuyển sang nắm loại tài sản khác, nhằm thu lợi ích cho nhóm mình, là một việc làm rất kém văn minh và không thể tồn tại lâu dài trên thị trường.

Một phiên bản của bài viết này trên VnEconomy.

Không nên thổi phồng cơn sốt gạo vừa qua

Cơn sốt gạo vừa qua ở TP Hồ Chí Minh, sau đó nhanh chóng lan ra khắp cả nước, giống như trận cuồng phong trong một tách trà, rõ ràng là không có nhiều cơ sở kinh tế. Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới, và về căn bản thì nguồn cung gạo lớn hơn lượng cầu một cách vững chắc, nên việc thiếu gạo hiển nhiên là câu chuyện hoang đường.

Như các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa, dường như tin tức quốc tế về cảnh hỗn loạn trên đường phố, thậm chí là đảo chính, cùng những hình ảnh cứu đói khẩn cấp ở nhiều nơi trên thế giới trong mấy ngày liền trước đó, đã làm cho người dân rơi vào một nỗi bất an tập thể. Nỗi sợ hãi lây lan đã đẩy họ tới cửa hàng gạo gần như cộng hưởng. Và điều hiển nhiên là, khi nhà nhà đổ xô đi mua cùng một lúc, dù mỗi người chỉ dăm cân, thì việc thiếu hàng tất yếu sẽ diễn ra.

bài báo còn kịp phê bình rằng một siêu thị nào đó chỉ có trong kho “mỗi” 200 tấn gạo, nên không kịp phục vụ quần chúng. Người ta cũng nhân cơn sốt này mà kêu gọi cải cách các kênh cung ứng gạo, như là phải mở thêm các đại lý cấp dưới hay việc xem xét lại toàn hệ thống, v.v…

Tôi cho rằng việc cải cách hệ thống phân phối và xuất khẩu gạo, hiện đang nằm trong tay hệ thống doanh nghiệp nhà nước độc quyền theo luật định, là một việc rất nên bàn bạc. Nhưng vì nguyên nhân của nó xuất phát từ những lý do khác, chứ không phải từ cái vô thức tập thể vừa bùng lên đã tắt ngay của mấy ngày vừa rồi, nên chúng ta không nên sa đà quá mức mà cho rằng “cuộc khủng hoảng gạo” vừa qua bắt nguồn từ lỗi lầm hệ thống.

Trong bất cứ ngành kinh doanh nào, mỗi doanh nghiệp đều biết phải duy trì một mức tồn kho tối ưu. Kinh nghiệm thị trường lâu năm cùng những tính toán cụ thể giúp họ biết phải làm gì. Điều này đúng với một cửa hàng bán bánh cuốn cũng như với một ngân hàng. Và các cửa hàng gạo không hề là ngoại lệ. Họ biết phải tích trữ bao nhiêu là tối ưu cho việc kinh doanh hằng ngày của họ. Việc đổ xô đi mua gạo, cũng hệt như việc đổ xô đi rút tiền từ ngân hàng trong một cơn hoảng loạn tài chính, hiển nhiên khiến thị trường mất cân bằng cục bộ nhất thời. Với các ngân hàng, vì về nguyên tắc người gửi có thể đòi tiền lại bất cứ lúc nào, nên chúng sẽ nhanh chóng sụp đổ nếu không có sự cữu vãn của một Ngân hàng Trung ương bằng cách bơm thêm một lượng tiền gần như vô hạn để trấn an khách hàng.

Tuy nhiên, với các các cửa hàng gạo, họ không có nghĩa vụ phải phục vụ người mua ở bất cứ giá nào, nên họ có quyền hoặc là ngừng bán, hoặc là tăng giá để siết chặt lượng bán, và chỉ dành phần gạo bất chợt tạm thời khan hiếm cho những ai thực sự cần gạo nhất (chẳng hạn cho những gia đình vô tình vừa hết nhẵn gạo nên phải đi mua cho bữa ngày mai). Còn những ai ở nhà vẫn còn gạo đủ cho vài tuần, thì có lẽ chưa cần mua ngay. Việc tăng giá có tác dụng sàng lọc mức độ khẩn thiết khác nhau của nhu cầu.

Về nguyên tắc, những người duy lý, chỉ cần nhẩm tính tổng lượng cung và cầu về gạo (hầu như không thay đổi qua các năm, và thường thặng cung vài triệu tấn), đều hiểu rằng cơn sốt gạo là sản phẩm của nỗi lo lắng duy cảm hoang đường mang tính bầy đàn, nhất định sẽ không tham gia vào đám đông chen lấn trước cửa hàng gạo. Nhà nước sẽ không phiêu lưu với chính sách lương thực, ngay cả khi giá gạo tăng gấp 3 lần trên thế giới. Nếu thị trường gạo được tự do hoá, gạo sẽ chảy ra nước ngoài vì mức giá rất cao, và người ta chỉ có thể níu chân chúng bằng cách tăng giá trong nước lên bằng hoặc cao hơn giá thế giới. Nhưng với một nước có thể tự chủ về khối lượng, và biết rõ lượng cầu hằng năm, thì việc thực thi chính sách bảo đảm an ninh lượng thực không phải là quá khó.

Có mấy lý do để Nhà nước mạnh tay bình ổn thị trường. Thứ nhất, hiện nay lạm phát đã rất cao, mức giá lương thực tăng đột biến sẽ khiến tầng lớp dân nghèo thành thị bị bần cùng hoá. Như thế không khác gì thêm củi đáy nồi. Trong khi đó, việc bình ổn giá trong trường hợp này không quá  khó khăn. Chỉ cần hạn chế xuất khẩu, là cung nội địa sẽ tăng và giá sẽ giảm. Thứ hai, các doanh nghiệp đầu mối buôn bán gạo, ở đây chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước trong hệ thống VINAFOOD, không muốn thị trường trong nước rơi vào tình trạng vô chính phủ về giá. Giới buôn gạo tư nhân sẽ tăng giá khắp nơi và nông dân sẵn sàng tăng giá bán ở các vụ tới. Việc gom gạo trên quy mô lớn sẽ gặp khó khăn và giá đầu vào cho xuất khẩu sẽ tăng. VINAFOOD có thể có lợi trong ngắn hạn (trước vụ tới) nếu giá trong nước tiến đến gần giá thế giới (và nếu muốn thế, họ có thể làm ngơ hoặc thậm chí tiếp tay cho việc găm hàng). Họ có thể bán ra và thu lời ngay trên thị trường nội địa sau khi giá đã lên đến lưng chừng trời. Nhưng như thế là điều chính phủ không thể cho phép. Họ hẳn muốn hướng tới lợi nhuận cao bằng cách bắt chẹt chính phủ Phillipines hơn là trêu ngươi đồng bào đang sắp hết kiên nhẫn. Nhưng ngay cả việc xuất khẩu với giá cao cũng chỉ mang tính thời vụ: không ai biết giá thế giới sẽ hạ thế nào khi các nước bước vào mùa thu hoạch tới. Do đó, trong trường hợp này, lợi ích nhóm của VINAFOOD trùng hợp với lợi ích của chính phủ và người tiêu dùng: tất cả cùng đồng lòng muốn dập tắt cơn sốt đỏng đảnh và nhốt ông thần giá gạo vào lại trong chai.

Đó là câu chuyện tức thời mấy ngày qua. Nhưng trước tình hình lạm phát vững chãi như hiện nay và tình trạng thiếu cung trên thị trường lương thực thế giới, sớm muộn gì giá gạo trong nước sẽ dần dần tăng. Đây là hậu quả của một quá trình lâu dài, nên việc tăng giá sẽ từ từ và mang tầm dài hạn. Việc đầu cơ tích trữ ở mức hộ gia đình nhìn chung không có nhiều ý nghĩa. Quần chúng và cả nền kinh tế sẽ phải học cách để điều chỉnh theo diễn biến mới của kinh tế thế giới, thông qua điều chỉnh tiền lương và năng suất. Câu chuyện dài hạn mới là câu chuyện chính. Hy vọng sẽ được tập trung thảo luận kỹ hơn.

[cập nhật ngày 7/5/2008: bài này sẽ đăng trên tuần báo Nhịp cầu đầu tư vào Thứ Hai ngày 12/5]

Thi đoán mò: vì sao phải nới biên độ từ từ

Giả sử là chúng ta không biết gì về tình hình nội bộ của Uỷ ban Chứng khoán, họ đang nghĩ gì và họ đã có cái gì (có lẽ đối với đa số chúng ta giả định trên khá chính xác), thì hãy thử suy luận xem là vì sao việc nới biên độ lại phải rất rụt rè?

Thứ nhất là việc siết biên độ đã giúp thị trường túc tắc, túc tắc đi lên. Nhưng mỗi ngày đi lên 1%, thì một tuần đã qua cũng chỉ lên bằng một phiên của hồi xưa.

Thứ hai là việc siết biên độ giúp thị trường bớt hỗn loạn, thì cũng phần nào tạo được mối bình tâm. Chẳng phải chỉ cho các nhà đầu tư, mà chính là các nhà chính sách lúc nào cũng như ngồi trên đống lửa.

Tuy nhiên, thực chất của việc thị trường phục hồi, trong ngắn hạn liên quan đến vấn đề giải chấp như nhiều người đã đồng ý, còn trong dài hạn thì liên quan đến vấn đề tình hình kinh tế vĩ mô ổn định và phục hồi. Tất cả những điều này đều cần có các động thái chính sách, và nó đòi hỏi thời gian. Do đó, siết biên độ để thị trường thoi thóp không dẫy đành đạch lên là rất quan trọng. Chẳng hạn, trong tuần vừa rồi, Thủ tướng đã ra gói chính sách bảy điểm rất tích cực. Theo giới chuyên gia kinh tế, đây là một trong những gói chính sách bài bản và “ngon lành” nhất của Chính phủ từ trước đến nay.

Cái chính là khả năng thực hiện đến đâu,  còn đường vạch ra thế là không hơn được nữa rồi. Nếu thị trường tin rằng gói chính sách trên có hiệu lực, thì TTCK sẽ tiếp nhận tin tốt bằng sự phục hồi phần nào vững chãi. Cho nên, việc siết thị trường có cái lợi là như thế: nó làm thời gian ngừng trôi tên TTCK, trong khi những công việc cứu chữa vẫn tấp nập bên ngoài.

Nhưng việc quần chúng có kỳ vọng lạc quan vào gói chính sách của Chính phủ hay không, thì là một việc hoàn toàn khách quan, mà không ai dám nói chắc hay bắt ép cả. Và UBCK hẳn hiểu rõ điều này. Bên cạnh đó, dường như Ngân hàng Nhà nước cũng chưa thấy cho ra một chính sách hay gói chính sách rõ ràng nào liên quan đến vấn đề tín dụng (chảy vào Bất động sản hay vấn đề giải chấp).

Khác với gói chính sách trên của chính phủ có tính dài hạn, gói chính sách sau này có tính ngắn hạn hơn nhiều (và do đó có tác động nhanh hơn). Chính vì chưa có biến động gì mạnh mẽ sau một tuần, nên bất chấp thị trường cặm cụi đi lên từng bước ngắn ngắn quý giá, UBCK hẳn vẫn rất ngại ngùng không dám manh động tháo dây cương. UBCK không dám tháo dây cương, là vì cái khả năng UBCK biết thị trường sẽ hành xử thế nào hẳn không được cao.

Chẳng hạn, nếu tháo dây cương mà chẳng may thị trường lại lao xuống cho hai phiên (-10%) thì bao nhiêu công một-hai tuần đi nhẹ nói khẽ, nâng trứng hứng hoa, bỗng chốc hoá ra thành dòng nước chảy?

Mà vào lúc ấy, chẳng nhẽ lại siết biên độ lần nữa? Thì chẳng hoá ra là Uỷ ban đang làm một trò chơi con trẻ? Nghĩ mình phương diện quốc gia/Quan trên nhắm xuống người ta trông vào, đố ai mà lại nhịn được cười?

Vì vậy, công nhận là rất khó cho Uỷ ban. Cho nên, cứ rụt rè mà tiến, vẫn là thượng sách.

Siết biên độ và các bước tiếp theo

Ghi chú: bài này viết trên cơ sở lời mời của mục Tài chính, báo Sài Gòn Tiếp Thị, dựa trên bài viết trước trên blog này. Sau khi cân nhắc kỹ, tôi cho rằng việc can thiệp của SCIC không thực sự cần thiết. Càng suy ngẫm về hành động của SCIC, tôi càng thấy hầu như không có cơ sở kinh tế nào ủng hộ việc nó tham gia vào thị trường chứng khoán, chứ chưa nói gì tới một vai trò cứu tinh. Hy vọng sẽ có thời gian cùng trao đổi với các bạn những suy nghĩ và lập luận này.

Do đó, bài viết mới cắt đi phần có liên quan đến SCIC. Cảm ơn các bạn đã trao đổi trong entry trước. (bài trong blog này là bài gốc, bài trên SGTT có thể sai khác đôi chút vì lý do biên tập)

***

Siết biên độ và các bước tiếp theo

Việc Ủy ban Chứng khoán quyết định siết biên độ có lẽ đã được hoạch định từ trước, và chỉ được chờ để tung ra khi VNindex chuẩn bị đâm thủng mức 500.

Về nguyên tắc thì việc siết biên độ tự nó không làm thay đổi khuynh hướng của thị trường, mà chỉ khiến các diễn biến xảy ra chậm hơn. Tuy nhiên, việc thị trường tăng hai phiên liên tiếp ngay sau khi chính sách được ban hành, cho thấy một số đặc điểm sau:

1.      Nhà đầu tư có khuynh hướng tin rằng chính sách siết biên độ sẽ đem lai kết quả đáng mong muốn, tức là tạo ra một cái đáy nhân tạo và sau đó thị trường sẽ phục hồi đi lên. Mặc dù cơ sở kinh tế cho hiệu ứng này không nhiều, nhưng những gì được phản ánh trên thị trường (giá tăng) cho thấy niềm tin này hiện hữu trong giới đầu tư. Đây là một điều đặc biệt có lợi với những ai muốn thị trường hồi phục. (Phải nói rằng không phải tất cả mọi người đều muốn thị trường hồi phục, vì việc sụp đổ vẫn luôn là cơ hội ngàn vàng cho rất nhiều người.)

2.      Trước khi siết biên độ, do thị trường xuống dốc với một quán tính lớn, những người nắm giữ cổ phiếu (kể cả ngân hàng thương mại với các cổ phiếu thế chấp) bị mất bình tĩnh và gần như rơi vào trạng thái hoảng loạn, do đó xảy ra hiện tượng tháo chạy do thời gian không ủng hộ họ. Ngược lại, bên có khả năng mua (các quỹ trường vốn hoặc các nhà đầu tư đang nắm tiền mặt), ở vào thế thượng phong, nên rất bình tĩnh và không mua ngay cả khi giá đã xuống dưới mức giá trị thực, vì thời gian ủng hộ họ. Việc siết biên độ có ý nghĩa phân phối lại lợi thế thời gian giữa hai bên. Nếu cả bên bán lẫn bên mua cùng tin rằng chính sách siết biên độ sẽ làm thị trường hồi phục, bên bán sẽ ngừng bán và bên mua sẽ bắt đầu mua, và thị trường sẽ thực sự hồi phục.

Như vậy, về bản chất việc tăng giá sau khi có chính sách siết biên độ mang tính tâm lý cao độ, dựa trên kỳ vọng khá thống nhất của hầu như toàn bộ thị trường là chính sách này sẽ giúp thị trường hồi phục thành công. Đây là một lợi thế rất tốt cho Uỷ ban chứng khoán, người muốn thị trường hồi phục.

Tuy nhiên, để các kỳ vọng không bị tan biến và trở nên tiêu cực, một động thái kế tiếp hoặc đi liền với việc siết biên độ phải là tạm ngừng, hoặc giãn đến tối đa việc giải chấp chứng khoán cầm cố của các ngân hàng thương mại.

Điều này đã có trong gói chính sách của UBCK, tuy nhiên, việc thực thi phụ thuộc vào sự hợp tác của NHNN và khối NHTM. Nếu khối ngân hàng ý thức được tầm quan trọng của việc kết hợp hai chính sách, họ nên làm càng sớm càng tốt, hoặc chính xác hơn, là ngay lập tức. Nếu thị trường phục hồi, việc giải chấp có thể hoãn lại mà không gây nguy hiểm cho các ngân hàng, vì giá trị của cổ phiếu thế chấp họ nắm giữ sẽ tăng giá, thay vì giảm giá như vừa qua. Tuy nhiên, do khối lượng cổ phiếu nắm giữ có thể quá nhiều, các ngân hàng sẽ gặp vấn đề thanh khoản nếu không bán ra. Như vậy, đi liền với việc giãn giải chấp, thì cũng cần có các hỗ trợ về thanh khoản trong trường hợp cần thiết.

Thời gian vừa qua, thông tin các ngân hàng phải bán chứng khoán để giải chấp bất kể trạng thái thị trường ra sao, đã góp phần tạo nên kỳ vọng trên toàn thị trường là cung sẽ dư thừa và sẽ giá giảm. Vì có kỳ vọng này nên những người nắm cổ phiếu độc lập cũng hốt hoảng bán ra, và những người có khả năng mua vào cũng hoãn việc mua vào. Kết quả là, cung thực sự dư thừa và giá thực sự giảm, mặc dù có thể lượng cung chứng khoán giải chấp thực tế chỉ là một phần nhỏ trong tổng luồng cung.

Nếu niềm tin này vẫn tiếp tục được duy trì, sẽ không thể cứu vãn được thị trường bằng cách siết chặt biên độ. Tuy nhiên, một điều đáng ngạc nhiên (và đáng mừng) là thị trường đã đi lên, kể cả khi chính sách ngừng giải chấp chưa được công bố. Điều ấy cho thấy thị trường chưa kết nối hai sự kiện này với nhau. Nếu chính sách ngừng giải chấp được đưa ra sớm, trước khi kỳ vọng chung thay đổi, thì sẽ giúp thị trường phục hồi bền vững hơn và có thể ngừng siết biên độ.

Có thể nói, việc ngừng giải chấp mới là nguyên nhân chính giúp thị trường phục hồi, còn việc siết biên độ chỉ mang tính hình thức và có vai trò như một phanh hãm về tâm lý, hay giống như nắm chặt lấy một người đang trong cơn hoảng loạn. Nhưng nếu tiếp sau nghĩa cử an ủi đó, không có một giải pháp thực sự, thì rất có thể thị trường sẽ lại vùng ra và lao vào một cơn hoảng loạn mới.

Hoạt động của room
15.07.2010
02.07.2010
+
(2) bình luận: Nhật Phương, someone
19.04.2010
+
(16) bình luận: baochan, Mèo Già, manh cuong
28.03.2010
(nguyenducthanh - 05.07.2008)
+
(1) bình luận: OSBORNEALISON34
24.02.2010
(truongtrivinh - 15.01.2008)
+
(12) bình luận: nguyen dinh tung, Pham duy mai, quyen ha
02.01.2010
+
(68) bình luận: remingtons, kaedeemill, propecia oral
04.11.2009
29.09.2009
Bạn bè nhận xét
viết hay!