read and travel
scarlett: read --> travel --> write --> read ... hihi
chip: Viết blast mới đi anh Thành. Nhấp đúp chuột vào ...
Room: BlogCafeF
Số bình luận:  108
Số bài viết:     17
Về động thái tăng lãi suất và giảm giá tiền Việt 2%

Bài trả lời phỏng của phóng viên Duy Linh, CafeF:

Doanh nghiệp có sức mạnh thị trường sẽ lướt trên lạm phát

Doanh nghiệp có sức mạnh thị trường sẽ lướt trên lạm phát

(CafeF) - “Lãi suất tăng lên để ổn định đồng tiền hầu như có thể đoán trước được, và sẽ không ảnh hưởng nhiều tới các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường….”

Ngân hàng nhà nước vừa có động thái tăng lãi suất cơ bản lên 14% đồng thời điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên mức 16.461 VND/USD. CafeF vừa có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Đức Thành một số khía cạnh về vấn đề này

NHNN vừa mới quyết định tăng lãi suất cơ bản lên 14% đồng thời điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND và USD từ mức 16.139 VND/USD lên mức 16.461 VND/USD áp dụng cho ngày 11/6/2008. Ông có nhận định gì về hai động thái này?

Tôi nghĩ việc tăng lãi suất cần được nhìn trong bối cảnh chung hiện nay trên các thị trường khác, đặc biệt là thị trường ngoại hối. Điều cần lưu ý là đồng thời với quyết định tăng lãi suất cơ bản, NHNN cũng tuyên bố giảm giá đồng tiền Việt 2% (từ 16.139 về 16.461 VND/USD). Như thế, theo quan điểm của tôi, hành động tăng lãi suất cơ bản dường như nhằm hướng tới ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam nhiều hơn là kiểm soát vấn đề thu phí tràn lan hiện nay. Tất nhiên một hành động chính sách có thể hướng tới nhiều mục đích cùng một lúc.

Nếu nâng lãi suất cơ bản thêm 2% (và do đó là nâng trần huy động và cho vay thêm 3%), đồng thời siết chặt phí suất phụ thu trong các khoản tín dụng của ngân hàng, thì đồng nghĩa với việc hướng tới nâng lãi suất huy động là chủ yếu, còn lãi suất cho vay có khuynh hướng bị siết lại. Như thế các ngân hàng sẽ gặp khó khăn hơn do chênh lệch lãi suất trong kinh doanh của họ giảm.

Tôi nghĩ phí suất có vai trò như một tấm đệm bù đắp cho sự khác biệt giữa mức lãi suất hành chính (áp đặt) và mức thị trường (theo cung cầu vốn). Việc loại bỏ tấm đệm này có thể giúp giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp, nhưng đồng thời có thể khiến các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn khó hơn vì khi chênh lệch lãi suất thấp và hầu như cố định, ngân hàng sẽ có khuynh hướng ưu tiên những khoản vay lớn để giảm chi phí.

Điều quan trọng hơn, theo tôi, dường như nằm ở chỗ NHNN muốn tăng khoảng cách lãi suất tiền gửi giữa đồng Việt Nam và đồng USD nhằm giảm tác động đô-la hoá và tránh những diễn biến xấu đối với đồng tiền Việt. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ việc tăng lãi suất như thế có hút được tiền Việt vào ngân hàng, và khuyến khích người dân chuyển từ USD, vàng và các tài sản khác về tiền Việt Nam (và gửi vào ngân hàng) hay không, là một vấn đề cần được quan sát chặt chẽ.

Theo nguồn tin cá nhân của tôi, trong thời gian trước, khi lãi suất tăng từ 10% lên 12% hoặc hơn, lượng tiền vào ngân hàng tăng mạnh. Nhưng với những diễn biến gần đây, khi lãi suất tăng lên nữa, lượng tiền không còn tăng mạnh. Có nhiều giả thuyết để lý giải hiện tượng này, tuy nhiên, chúng ta cần thêm thời gian để đi đến những kết luận chính xác.

Lãi suất cho vay sẽ tăng lên mức tối đa 21%/năm, nhiều người cho rằng với mức lãi suất này tỉ suất lợi nhuận của doanh nghiệp không thể tăng theo kịp. Liệu các doanh nghiệp đang phải chịu đựng lãi suất cho vay quá cao?

Nếu các doanh nghiệp có thể tăng giá theo cùng mức lạm phát, thì về nguyên tắc đây không phải là một vấn đề lớn. Vì lạm phát kỳ vọng của năm nay là hơn 20%, do đó, với lãi suất danh nghĩa khoảng 21% thì lãi suất thực không phải là cao.

Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp có khả năng tăng giá rất khác nhau, nên sẽ phân ra thành hai tuyến. Các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường thường điều chỉnh được giá lướt trên bề mặt của lạm phát, và do đó sẽ tồn tại được. Nhưng các doanh nghiệp có ít sức mạnh thị trường, và đó thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thường không làm được điều này, và họ sẽ rất khó khăn trong vòng 6 tháng – 1 năm tới. Hơn nữa, lạm phát cao như hiện nay làm môi trường kinh doanh bất ổn hơn trước đây nhiều, nó khiến việc dự báo để ra các kế hoạch kinh doanh khó khăn hơn trướcnhiều.

Dù thế nào, trong khoảng sáu tháng đến một năm tới, nợ xấu trong khu vực ngân hàng sẽ có khuynh hướng tăng. Do đó, đi liền với các chính sách này Thủ tướng cũng đã có chỉ đạo rà soát chặt chẽ các khoản tín dụng. Đó là những việc làm đồng bộ và cần thiết.

Nhiều ý kiến cho rằng các thông báo tăng lãi suất của NHNN khá đột ngột khiến các doanh nghiệp không dự báo được chính sách lãi suất liên tục biến động. Anh có ý kiến gì về vấn đề này?

Trong tình hình khó khăn hiện nay, sẽ xuất hiện nhiều chính sách mới. Nói là đột ngột chưa chắc đã đúng, vì nếu doanh nghiệp hiểu rõ tình hình vĩ mô, họ sẽ biết sớm hay muộn nhà nước sẽ phải áp dụng một số chính sách. Do đó, tầm nhìn và tri thức của lãnh đạo doanh nghiệp trong thời điểm này là rất quan trọng. Phải qua sóng gió mới biết ai lái thuyền giỏi. Tôi tin là đối với các doanh nhân có tầm nhìn, những động thái chính sách vừa rồi là có thể nhìn thấy trước.
Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi!

Huỳnh Duy

9 Bình luận cho bài viết
Quang Trung | Tháng Sáu 12th, 2008 lúc 11:01 sáng

Việc tăng đồng thời lãi suất và phá giá VND thể hiện sự mâu thuẫn trong chính sách. Nếu ai có học chuyên ngành K.tế biết ngay đc rằng tăng lãi suất chính là tăng giá VND, nhưng đồng thời ta lại phá giá VND đi 2% !? NHNN đã quá luống cuống rồi - tại sao không ai chỉ ra được sự mâu thuẫn này nhỉ? Lãi suất cho vay hiện nay đã là quá cao so với lợi nhuận ròng bình quân của nền k.tế. Tỉ lệ lợi nhuận RÒNG bình quân gia quyền tính cho toàn bộ nền kt nói chung này rất ổn định, chỉ khoảng từ 5 - 7%/năm, thậm chí còn đúng với toàn thế giới! Chúng ta cũng nên phân biệt rõ, tăng trưởng có thể rất cao, thậm chí đạt 30%, 50% hay hơn 100%, nhưng tỉ suất lợi nhuận ròng/tổng vốn đầu tư là gần như không đổi! Nếu như các đối tượng đi vay hiểu thêm được khái niệm chi phí cơ hội, thì thay vì làm cật lực, trả xong các loại CP và thuế để cuối năm có đc lợi nhuận khoảng 7%, người ta sẽ ngồi chơi xơi nước, tốt nhất k làm gì cả, gửi tiền tkiệm mà thu lãi NH đã lên tới 17 - 19%/năm! Nhưng tại sao bây giờ vẫn có ng đi vay, thậm chí NH còn kênh kiệu không muốn cho vay? Đơn giản vì KD không thể đóng cửa nhanh như vậy được! Nếu các DN mà thanh lý được ngay công ty của mình trong ngày một ngày hai thì tôi đảm bảo ngày mai sẽ không còn ai đi vay NH nữa! Cũng thấy ngay được rằng tính thanh khoản không những của riêng TTCK mà của toàn bộ nền ktế hiện nay là khá thấp, lượng tiền mặt còn dư thừa nằm ngoài NH không còn nhiều. Tôi cũng đồng ý với nhận định của Thành là tỉ lệ nợ xấu đang tăng cao. Rủi ro tăng tỉ lệ thuận với lãi suất, các ngành KD mà có tỉ suất lợi nhuận cao thường là các lĩnh vực có rủi ro rất cao, trước đây là CK, BĐS, bây giờ là xe hơi, ngoại tệ, vàng… Tôi phản đối quan điểm của một số quan chức CP nói rằng lãi suất cao sẽ giúp NH thanh lọc các dự án có hiệu quả, dự án nào “hiệu quả” thì tiếp tục vay, còn dự án nào không HQ thì dẹp! Thực ra lãi suất này quá cao đối với tất cả các DN mạnh cũng như yếu, lớn hay nhỏ của nền kt, nhưng đơn giản là vì các DN mạnh thì họ có thể giảm bớt được tỉ lệ vay trong tổng vốn lưu động nên tác hại của lãi suất cao không ảnh hưởng nhiều tới KD của họ như tác hại đ/với các DN nhỏ. Tất cả các DN bây giờ đang tự cắt thịt của mình ra để cầm cự, những DN khỏe thì có thể cầm cự được, những DN yếu sẽ chóng chết hơn. Thiết nghĩ, bây giờ có lẽ buôn lậu là hiệu quả nhất theo đúng như mong muốn của một số quan chức!!! Do vậy lãi suất cao vô hình chung làm suy yếu dần dần nền ktế, vô tình cổ súy cho những hình thức KD rủi ro cao, “lợi nhuận” lớn, mà tác hại hai mặt của nó sẽ đánh ngược vào hệ thống NH khi tỷ lệ nợ xấu vượt quá mức an toàn. Nếu chúng ta tiếp tục duy trì mức lãi suất nt này trong vòng 1 - 2 năm nữa sẽ kiểm chứng được lời cảnh báo ngày hôm nay!

TanNg | Tháng Sáu 12th, 2008 lúc 12:02 chiều

Có 2 loại doanh nghiệp vượt qua được cơn khủng hoảng. Một như Thành nói, là doanh nghiệp có khả năng tăng giá. Hai là, doanh nghiệp có lợi nhuận biên cao. Doanh nghiệp loại 1 sẽ tăng giá, nhưng nội lực không được cải tiến. Doanh nghiệp loại thứ hai sẽ cải tiến, cắt giảm chi phí, cải thiện hiệu suất, giảm chất lượng sản phẩm một phần để mở rộng thị phần, song song với các biện pháp cải thiện tài chính như đóng cửa các hoạt động kinh doanh không có lãi.

Chính doanh nghiệp loại 2 mới là loại giúp nền kinh tế vượt lên sau cơn khủng hoảng.

dai dao | Tháng Sáu 16th, 2008 lúc 9:57 chiều

Như chúng ta đã biết, nền kinh tế VN từ đầu năm đến nay đã nhập siêu gần 16 tỷ USD cộng với tình hình gần đây người dân đổ xô đi mua USD để tich trữ đã làm trầm trọng thêm cho nền kinh tế vốn đã thiếu ngoai tệ trong xuất nhập khẩu. Vì vậy theo tôi việc ngân hàng nhà nước điều chỉnh tănng lãi suất nhưng đồng thời lại phá giá VND là trong ngắn hạn nhằm hạn chế nền kinh tế bị dola hóa trầm trọng, lãi suất tăng sẽ kích thích người dân gửi tiền vào ngân hàng và kèm theo đó sẽ hạn chế được việc thiếu hụt dolo.Nhưng bất kỳ một chính sách nào cũng có tinh hai mặt của nó, việc tăng lãi suất có thể giải quyết được việc thiếu hụt dola từ đó có thể giải quyết được những khó khăn trước mắt, nhưng về lâu dài coi như chúng ta đã tiêu diệt nền sản suất vừa và nhỏ vốn dĩ mới được hình thành chưa lâu, chưa có nhiều vốn nên vẫn phải dựa nhiều vào luồng vốn của ngân hàng để phát triển sản xuất. Nhưng với lãi suất 21% như hiện nay( ko kể có những ngân hàng còn cho vay đến 25%) các doanh nghiệp sản xuất nhẹ thì tam thời đóng cửa hoặc giảm qui mô sản xuất mà năng thì tuyên bố phá sản. Đi liền với nó XH sẽ thất nghiệp nhiều hơn, lương công nhân thấp đi. Nói tóm lại la sẽ có rất nhiều di chứng nặng nề cho XH. Sau lần khủng hoang này chac phải mất từ 5 đến 10 năm chúng ta mới lai khôi phục được nền sàn xuất bằng với trước khi xay ra khugn hoang.Còn về việc các quan chức phát biểu thi chuyện đó cũng dể hiểu vì họ phải luôn nói về mặt tốt để cổ vũ cho chinh sách chứ ai lại đi kể ra những mặt xấu.

tran trung an | Tháng Sáu 23rd, 2008 lúc 2:30 sáng

muốn ổn định kinh tế, tỷ gia NHNN đặt ra phải có uy tín, NHNN phải quyết tâm cấm luôn các đại lý thu ngaọi tệ cả thu vaò và bán ra, lý do :hiện nay các đại lý thu ngoại tệ không bán cho ngân hàng theo qui định về số tiền và tỷ gía, ngân hàng cũng không bán cho khách hàng theo tỷ gía của NHNN, tỷ gia của NHNN không có uy tín, nếu chỉ có ngân hàng đuọc thu ngoại tệ, thi ngân hàng sẽ không có lý do bán cho khách hàng theo tỷ gia đên, và bây gìo, chi nhánh của các ngân hàng đâu có thiếu, cú ba boúc là có một chi nhánh , đâu cần đại lý ? cho đại lý thu không cho bán cũng khó kiểm soát là mua hay bán.

Tuan Anh Nguyen | Tháng Sáu 28th, 2008 lúc 9:33 chiều

Trong tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay, việc nâng lãi suất cho vay lên 21% của NHNN là một bước đi đúng. tất cả mọi thứ bây giờ là phải ưư tiên chống lạm phát tăng cao. tôi đồng ý với quan điểm của quan chức chính phủ rằng, chúng ta cần thanh lọc những dự án không hiệu quả. các doanh nghiệp sẽ có thể càng gặp khó khăn hơn khi nhà nước không có đủ những biện pháp mạnh để bảo đảm tình hình tài chính quốc gia. lạm phát tăng cao, thì kéo theo giá cả tăng cao và đời sống của nhân dân càng thêm khí khăn .khi dó , kinh tế việt nam sẽ như một quả bong bóng bị nổ tung do bơm căng quá mức. tất nhiên , đồng tiền nào cũng có hai mặt của nó, nếu chúng ta cứ giữ mức lãi suất tín dụng cao như hiện nay thì chúng ta sẽ gặp nhiều ” mặt trái ” của vấn đề. theo quan điểm của tôi, NHNN nên giữ mứ lãi suất như hiện nay đến cuối năm và giảm nó từ đầu năm sau , khi tình hình kinh tế co nhiều chuyển biến tích cực hơn. Bạn Quang Trung cứ yên tâm , tôi không nghĩ NHNN sẽ giữ mức lãi suất như hiên nay lâu đâu vì có lẽ họ cũng hiểu những biện pháp hiện nay đưa ra cũng chỉ nhằm mục đích chính giải quyết những khó khăn hiện thời của nền kinh tế.

Quang Trung | Tháng Sáu 29th, 2008 lúc 12:06 chiều

Bạn T. Anh: “nâng lãi suất cơ bản là một bước đi đúng”, tôi muốn bình luận thêm. Tôi thì nghĩ rằng NHNN sắp hạ lãi suất chỉ trong vòng 2 tháng nữa. Có rất nhiều lý do tôi có thể kể ra đây:
1- “Bẫy thanh khoản”: khi tiền T.kiệm ko tăng thêm đc nữa thì CS thắt chặt tiền tệ dựa trên tăng lãi suất bị vô hiệu hóa, có nghĩa là tăng lãi suất sẽ không có tác dụng kiềm chế lạm phát, mà phản tác dụng của nó thì có thừa! 1 số ng nghĩ rằng hay vì lãi suất vẫn chưa “thực dương” nên không hấp dẫn gửi tiền vào NH? Các nhà K.Tế tg lai phải hiểu rằng tiền TK chính là tiền nhàn rỗi, tiền đã đầu tư không có cách nào chuyển thành tiền TK (hãy tìm hiểu xem hiện nay có bao nhiêu tiền đã đầu tư vào BDS, CK hay vàng)! Vậy nếu có tăng LS lên nữa thì chỉ thu hút đc tiền nhàn rỗi. Trong thời buổi này, l.vực KD nào có lợi nhuận lớn đều rất rủi ro, BDS thì đã “chết” hẳn, còn CK, vàng, đôla, có thể lúc này thắng 20%, nhưng ngày mai lại thua 20% ngay đấy, chung quy lại cuối năm tiền lãi chẳng đáng bao nhiêu so với vốn bỏ ra. Vậy nếu ai còn thừa tiền thì họ dại gì mà lao vào các l.vực này nữa? Nếu ko làm gì với tiền thừa thì ngay bây giờ họ đã phải gửi TK rồi, chẳng phải để tiền “chết” ở nhà để đợi NH tăng lãi suất đâu! Thông minh hơn, cứ gửi TK bây giờ với th/hạn ngắn, nếu NH tăng lãi suất thì đổi sổ, còn hơn đùng một cái bác Giàu hô hào hạ lãi! Đợt nâng lãi suất tiền gửi lên 12% đầu năm đã cơ bản hút hết tiền nhàn rỗi trong dân. Còn những ai đã chót đầu tư vào một l.vực nào đó thì tăng lãi lên 19% như hiện nay chứ tăng lên 190% cũng chẳng có cách nào chuyển thành tiền TK đc! Đây là QUY LUẬT mà các “chuyên gia giấy” ở NHNN nên nghiên cứu kỹ!
2- Lịch sử tiền tệ TG cho thấy rằng thực hiện “lãi suất thực dương” ĐẾN CÙNG là một biện pháp chắc chắn chặn đứng được đà lạm phát (mặc dù có thể xảy ra hiện tượng bẫy thanh khoản) nhưng nó buộc nền KT và thậm chí chính trị QG phải trả một cái giá rất đắt. Vì khi duy trì LS thực dương đến cùng khi nó phát huy hiệu quả thì BUỘC phải xảy ra khủng hoảng cho nền KT, khi nền KT khủng hoảng thì đương nhiên lạm phát sẽ dừng lại. Thực tế là mọi cuộc lạm phát khi thực hiện LS thực dương đến cùng trên TG đều dẫn tới sụp đổ một cơ chế ql K.tế cũ, thay = một cơ chế mới, thay đổi 1 ng đứng đầu CP thậm chí 1 chính đảng lãnh đạo giống như ở Mỹ 1933, Thái Lan và Hàn Quốc 1997, Việt nam 1988 v.v.. Tôi muốn nói rằng LS thực dương sẽ không phát huy hiệu quả nếu không xảy ra khủng hoảng, khi GDP suy giảm, nghèo đói lại bùng nổ, hệ thống các DN đang tồn tại bị phá sản, SX đình đốn, sự phá sản hay sáp nhập hàng loạt của hệ thống NH… Tại sao? Vì lãi suất thực dương luôn khiến CP vốn tăng lên khủng khiếp và điều này buộc các DN đi vay phải tăng giá đầu ra, lại dẫn đến tăng mặt bằng giá cả, như vậy lạm phát lại đẻ ra lạm phát, cái vòng luẩn quẩn này cứ thế diễn ra cho tới khi nào các DN nhận thấy tốt nhất là đóng cửa mà ngồi chơi hưởng LS, không KD nữa, nếu nó nhân lên trên bình diện rộng thì đây chính là hiện tượng khủng hoảng. Hay nói cách khác theo như châm ngôn của Trung quốc (Tôn Tiễn) đây chính là bài học “rút củi đáy nồi”. Thực hiện LS thực dương chạy đua với lạm phát không khác gì để làm nguội nước trong nồi đang sôi thì ta đổ thêm nước lạnh vào mà không rút củi ở bếp ra.
3- Sẽ có ng cãi rằng vậy thì không vay NH nữa thì sẽ không phải chịu chi phí vốn cao! Muốn điều này xảy ra thì các DN phải dùng vốn tự có để đầu tư, có nghĩa DN sẽ chỉ được dùng lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư, như vậy tỉ lệ đầu tư sẽ là rất thấp trong GDP, không đảm bảo phát triển K.tế.
Nhưng tôi cũng hy vọng rằng chúng ta có biết tới bài học này và không dại gì chạy theo lạm phát bằng cách tăng lãi suất mãi mà không thực hiện các giải pháp mang tính gốc rễ khác đồng thời.

Tuan Anh Nguyen | Tháng Sáu 29th, 2008 lúc 5:51 chiều

hãy thử nghĩ xem chính sách tiền tệ dùng để làm gì. để củng cố tình hình tài chính của môt quốc gia. với tính năng ưư điểm của nó là dễ thay đổi và tác dụng nhanh. hãy xét xem, nếu NHNN vẫn để lãi suất thấp thì thế nào? như thời gian trước lấy ví dụ như nhập khẩu xe hơi, các doanh nghiêp thoải mái vay để nhập khẩu về thật nhiều rồi đến bây giờ xảy ra tình trạng như thế này. hay bất động sản cũng thế , dễ dàng vay để rồi xuất hiện giá trị ảo của nó. nạn đầu cơ sẽ dễ dàng hoàng hành hơn. bds bây giờ tạm “chết” hẳn nhưng không có nghĩa là chết mãi mãi. ở mỹ , họ cũng đã gặp nhiều khó khăn về kinh tế, nhưng CP cũng chẳng thể làm được gì nhiều, bởi vì họ hiểu đây là khó khăn mang tính theo chu kỳ phát triển của nền kinh tế và đến tận 2010 mới có cơ hội ồn định lại được. còn chúng ta thì sao, vào WTO với biết bao cảnh báo khó khăn về kinh tế. các doanh nghiệp mang tinh kiếm lời trong chốc lát chứ không mang tính lâu dài. bởi vậy xuất hiện vô số những đầu tư không hiệu quả và CP đã cố gắng kiềm hãm những vấn đè này. như TS Thành đã nói các cách doanh nghiệp lớn sẽ vuợt qua đựoc khó khăn này vì họ cũng đã dự đoán đựoc vấn đề này từ trước. nhưng những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì sẽ gặp khó khăn, thà có những cuộc “sát nhập” hay phá sản vào lúc này vẫn tốt hơn là trong tương lai khi các doanh nghiệp nuớc ngoài khẳng định được vị thế của mình trên thị truờng thì số phận họ cũng rất mong manh, doanh nghiẹp chúng ta nói chung còn rất yếu. thêm một khía cạnh nữa là nguời dân chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm, đồng thời gián tiếp gây khó khăn cho nền kinh tế. kinh doanh theo phong trào quá nhiều và đầu cơ dễ dáng tung hoành. và CP cũng nên làm cho người dân hiểu chúng ta nên đồng lòng vuợt qua khó khăn như hiện nay. Binh pháp tôn tử nổi tiếng của TQ đã nói ” muốn đánh đựoc giặc phải yên lòng dân”. khi tình hình kinh tế “dịu bớt” họ sẽ giảm lãi suất xuống để thúc đẩy đầu tư trở lại. lúc đó chắc chắn mọi thứ sẽ tốt hơn bây giờ. còn như bạn nói chỉ khoảng 2 tháng nữa sẽ giảm lãi suất thì chắc lúc đó tinh hình sẽ đỡ hơn rồi, và tôi sẽ không có cơ hội để đợi 1- 2 năm kiểm chứng lời bạn từng nói. những yếu tố mang tính “sách vở ” đó sẽ khó mà thành hiện thực được vì khi chính sách thay đổi thì nền kinh tế cũng sẽ theo một huớng khác. và trên thực tế CP đã có nhiều biện pháp đi kèm với nâng lãi suất để “kìm ” lạm phát chứ đâu đơn lẻ là hành động này. tôi cũng hy vọng Viêt Nam sẽ buớc qua được những khó khăn hiện tại và hòa nhập tốt hơn khi tham gia vào “sân chơi” chung quốc tế.

Quang Trung | Tháng Sáu 30th, 2008 lúc 4:24 chiều

Bàn luận 1 chút với bạn T. Anh để rõ thêm Q điểm của tôi:
1- CS thắt chặt tiền tệ là đúng, mới là ĐK cần nhưng chưa đủ. Vì th/hiện 1 mình CS này mà k đi kèm với các gi/pháp gốc rễ khác thì sẽ k những giảm lạm phát mà còn làm gia tăng l/phát. Đơn giản vì trong bối cảnh kte TG có rất nhiều thay đổi như hiện nay, nguyên nhân của LP ko đơn giản là ng/nhân tt (viết về tình hình l.phát toàn cầu hiện nay thì có khá nhiều tài liệu, th/tin và báo chí phân tích nó - bạn nên tìm hiểu thêm). Tôi nghĩ rằng sau đợt LP này, ta nên th/hiện 1 CS “mục tiêu LP” (inflation targeting), buộc phải chấp nhận 1 tỉ lệ LP nào đó (căn cứ vào lạm phát dầu thô), tôi chắc 99% sẽ không bao giờ có tỉ lệ dưới 8% như trc nữa đâu cho tới khi nào loài ng phát minh ra 1 nhiên liệu khác thay thế dầu mỏ.
2- các công cụ của CS thắt chặt tt có rất nhiều, nếu chỉ dựa vào tăng lãi suất thôi cũng không đủ mà còn gây phản tác dụng (như đã nói rất nhiều ở các bài viết trc). Khi lạm dụng CS tăng lãi suất chạy đua với lạm phát thì không khác gì CS lãi suất thực dương. Bởi vì trong cuộc đua (không hồi kết) này chẳng biết bao giờ thì LS vượt lên trên LP (LS thực dương) và bao giờ thì LP vượt lên trên LS (LS thực âm). Bạn cứ chiêm nghiệm lời tôi xem có đúng ko nhé. Cụ thể là khi tăng LS cơ bản lên 12% NHNN nên coi đây là động tác cuối cùng test sự hiệu nghiệm của CS lãi suất. Nếu T Kiệm ko tăng nữa có nghĩa CS này đã bắt đầu bị vô hiệu hóa. Tôi cho rằng cố tình đẩy lãi suất lên 14% là sai lầm (trong mục đích kiềm chế LP), nhưng ko loại trừ mục đích mà NHNN đang cố bao biện cho cuộc đua lãi suất của các NHTM - ở đây ta ko bàn đến.
3- Khi hiểu rằng tăng ls là 1 con dao 2 lưỡi, lợi bất cập hại thì NHNN có toàn bộ thẩm quyền hạn chế nhập khẩu ô tô và đầu tư vào BDS bằng các cách khác, giống như hạn chế cho vay CK trong chỉ thị 03 vậy, không cứ là phải tăng lãi suất.
4- Nếu tăng LS mà lạm phát dừng lại khi nền Kte không rơi vào khủng hoảng thì ta coi đây là thành công của CS thắt chặt tiền tệ (khi không có hiện tượng bẫy thanh khoản). Nhưng nếu tăng LS, nền KT rơi vào khủng hoảng, lạm phát cũng vẫn dừng lại, nhưng ta lại phải coi đây là thất bại của CS thắt chặt tiền tệ (có h.tg bẫy thanh khoản).
Sẽ không có chuyện như T. Anh nói có thể 1 số DN nhỏ phá sản hoặc sáp nhập mà ko có khủng hoảng xảy ra đâu! Vì bạn đã quên mất rằng các DN dù lớn hay nhỏ đều có bản năng sinh tồn giống như con người vậy, nếu có 1 vài DN bắt đầu phá sản thì có nghĩa sức ép phá sản đã lan rộng và trở nên quá sức chịu đựng với nhiều DN khác, nó như 1 hiệu ứng domino và sẽ gây ra khủng hoảng toàn bộ nền KT. Tất nhiên ko loại trừ 1 vài DN sống sót sau khủng hoảng. Nhưng khủng hoảng là khủng hoảng, nếu duy trì CS lãi suất thực dương tất yếu sẽ xảy ra khủng hoảng. Liệu CP có chấp nhận trả giá đắt như vậy ko? Không biết bạn T.A có được chứng kiến ko chứ tôi đã phải thấm thía th/kỳ siêu lạm phát và khủng hoảng của VN những năm 1984 - 1988, một th/kỳ thật khủng khiếp, toàn XH VN đã phải trải qua đau đớn tột cùng và đã trả 1 cái giá rất đắt!

Viết bình luận
Nếu muốn bình luận chi tiết hơn cho bài viết này, bạn có thể sử dụng chức năng đối thoại blog
Họ và tên (bắt buộc)
Địa chỉ E-mail (bắt buộc)
Địa chỉ Website
Nội dung (6000 ký tự)
+ Bạn có thể thêm HTML chèn vào form bình luận  
Hoạt động của room
31.08.2010
+
(11) bình luận: Kraunchda, Omniwo, Tran Quoc Thai
15.07.2010
02.07.2010
+
(2) bình luận: Nhật Phương, someone
19.04.2010
+
(16) bình luận: baochan, Mèo Già, manh cuong
28.03.2010
(nguyenducthanh - 05.07.2008)
+
(1) bình luận: OSBORNEALISON34
24.02.2010
(truongtrivinh - 15.01.2008)
+
(12) bình luận: nguyen dinh tung, Pham duy mai, quyen ha
02.01.2010
+
(68) bình luận: remingtons, kaedeemill, propecia oral
04.11.2009
Bạn bè nhận xét
viết hay!