Mỏng manh dễ vỡ...
Số bình luận:  95
Số bài viết:     23
Miếu Ông Bổi và Nuốt sách

2- Miếu ông bổi

Làng này xưa tên gọi là Mỗ Tương. Trải qua nhiều thăng trầm, thay tên mới, nay tên cũ không ai nhắc tới.

Thời Tây Sơn, không nhớ năm nào, trong làng có Nguyễn Bổi nổi tiếng ham học, thấy ai hơn mình đều tìm đến thụ huấn, kết giao. Khi quân Thanh kéo vào xâm chiếm nước ta, Bổi bỏ bút, cầm gươm vào Đàng Trong theo vua Quang Trung.

Sinh ra không để cầm gươm múa giáo, nên với các ban võ nghệ giữa đám sĩ tốt, ông đều bị xếp thứ bét, bù lại biết kể chuyện cười dân gian, đọc thơ vui, làm quân sĩ thường quên cả nặng nhọc. Có người mách việc ấy với Quang Trung. Quang Trung cho gọi lên, hỏi: “Nhà ngươi biết làm cho quân sĩ vui. Có biết làm cho ta vui không?” Bổi ngay thẳng hỏi lại: “Đấng quân vương thấy binh sĩ vui, lòng có vui không?” Quang Trung khó chịu, vẫn trả lời: “Vui!” Bổi bèn nói tiếp: “Thói thường, vua chúa hay tìm vui chốn cung nữ, khuê đài, nhã nhạc… Nay bệ hạ ra trận, như các vương giả đời xưa, nên lấy chiến thắng làm nguồn vui lớn. Thần xin có kế nhỏ dâng lên bệ hạ làm nguồn vui nhỏ!” Quang Trung là bậc anh hùng kiệt hiệt, trăm trận trăm thắng, lần này đối địch với quân Thanh, biết phải thận trọng, đang bày mưu kế chưa xong, nay thấy giữa đám tốt đen có đứa nói cứng, nghi ngờ lắm, hỏi gấp, kế gì? Bổi vẫn nhẩn nha, hỏi lại: “Quân Thanh có nhiều hơn quân ta không?” Quang Trung chau mày: “Quân Thanh hơn hai chục vạn”. Bổi hỏi tiếp: “Quân Thanh có tinh nhuệ không?” Quang Trung trừng mắt! Bổi cúi đầu, mỉm cười: “Bệ hạ đừng vội nóng giận.” Quang Trung nghiêm sắc mặt: “Dân Bắc Hà ăn nói vòng vo quá. Quân sắp ra trận. Thành bại của tướng là sống chết cả vạn người. Đâu phải chuyện để đùa vui. Nói ngay, đúng ta thưởng, hồ đồ, chém làm lễ tế thần linh, an lòng binh sĩ”. Bổi vẫn bình tĩnh, không tỏ ra run sợ, biết là lúc Quang Trung lắng nghe mình, bèn nói một hơi không nghỉ:

- Nói về thế, quân Thanh trong đồn lũy, một người có thể chọi năm, địch mười. Bệ hạ tiến binh ra đất mà đa phần sĩ phu ham vui, nhu nhược, dân chúng vốn rặt tham lợi nhỏ, danh hão… chỉ khi bị nhục thì lập tức bất cần, trở nên khí phách, can trường, mạng sống chết coi như rơm rác. Xin bệ hạ hãy làm cho nhà nhà biết cái nhục người Nam, khi quân giặc lấy Thăng Long như đi vào chỗ không người, coi người Nam ta như chó ngựa… Lại đem cái lợi sau khi chiến thắng mà tuyên truyền, hẳn muôn người ở Bắc Hà này sẽ liều chết theo bệ hạ. Được vậy, hai chục vạn quân Thanh chắc không đông bằng dân cả nước Nam. Quân Thanh đã tinh nhuệ, so với tiền quân bên bệ hạ chẳng thua kém gì, lại trong đồn lũy, là thế mèo nằm đợi chuột. Ta tiến vào Thăng Long, thế nào cũng qua Ngọc Hồi. Xin bệ hạ, chọn một ngàn tay đao ngắn, voi trăm thớt. Thần xin có mẹo nhỏ biến họ thành dũng sĩ, không sợ súng to đạn lớn, đồn cao lũy dày của Hứa Thế Hanh.

Quang Trung nghe. Sắc mặt chuyển từ căng thẳng sang bình thường. Thấy Bổi dừng lại, bèn giục, nói tiếp, nói tiếp. Nguyễn Bổi bèn tiến sát Quang Trung ghé tai nói thầm chỉ hai người nghe thấy. Kết bằng câu: “Cứ thế! Cứ thế!”

Quang Trung nghe xong, cười lớn, nói, được lắm, hợp ý ta!

Từ bữa đó, Quang Trung giữ Bổi ở bên mình.

Bên Quang Trung, Bổi tỏ ra người lắm cơ mưu, lại biết lựa lời nói với dân chúng, nên quân sĩ dọc đường ra bắc theo Quang Trung rất đông. Trận Ngọc Hồi, Bổi sai lính kiếm rặt thứ sẵn ở nơi thôn dã, chặt tre pheo làm xương, lấy rơm rạ, kết bùn ao đắp lên, làm tấm mộc lớn cho quân sĩ; lại kêu gọi dân chúng quanh vùng, bất kể ai, miễn có lòng, trong đêm tối đốt lửa, gõ mõ, thanh la, chiêng, trống. Quân Thanh trong đồn tưởng quân ta có ức vạn. Hứa Thế Hanh tuy là danh tướng, có đạn to, súng lớn, lại ở trong Ngọc Hồi hào sâu, lũy cao, nhưng vào trận, trong tiếng động dậy đất, thấy quân ta cứ ào ạt xông lên, nên lòng người hoảng loạn, dũng khí tan biến. Ngọc Hồi nửa đêm bị san phẳng. Ngọc Hồi mất, Thăng Long như ngôi nhà không cửa. Quang Trung đánh mấy trận nữa, toàn thắng.

Sau khi quét sạch quân Thanh, một đêm Bổi dẫn quân sĩ đi tuần, tới đoạn Chương Dương. Bến vắng, sông sâu. Chợt thấy mặt nước vẳng lên tiếng đàn thống thiết như mời gọi. Lắng nghe, tâm dạ chao động, bồn chồn. Bèn sai lính chèo thuyền ra, tịnh không thấy bóng người. Bên bờ có một thuyền câu, bắt lái thuyền lại hỏi, mới hay trước khi đại phá quân Thanh, đây là chỗ có người con gái tên Huyền Cầm vì nước xả thân, rồi hoá ở khúc sông này(1). Thất kinh, đêm ấy Bổi sai quân sĩ sắm lễ, tự mình dâng hương, rồi cắm thuyền nghỉ tại đó. Nửa đêm vừa chợp mắt, bỗng nghe trong tiếng nước chảy có tiếng đàn Thất Huyền Cầm như đưa đẩy con thuyền. Nhỏm dậy, thấy trong sương bay khói nước có người con gái, tóc mây mượt mà, làn da, khuôn mặt toả sáng, tươi tốt như hoa cỏ mùa xuân, ôm đàn tủm tỉm cười. Bổi hỏi, người từ đâu tới? Cô gái cất tiếng, đất này của người Nam, sông này của nước Nam, hỏi vậy có vô duyên không? Bổi bối rối, tỏ vẻ biết lỗi, lại xin mỹ nhân đàn nữa. Mỹ nhân nâng đàn, tay mềm lả lướt, ngón ngọc nhẩn nháy cung phím, rung vang trên mặt nước, theo gió bay khắp thứ âm nhạc Bổi chưa khi nào từng nghe; cung bổng như tia nắng ban mai, cung trầm như sóng biển thì thầm vỗ, xuyên thẳng tâm can, thấm sâu cả vào lục phủ ngũ tạng Bổi. Cảm động, muốn nắm tay mỹ nhân. Nhưng cứ đưa tay ra là cô gái biến mất, lẫn vào sương khói. Với mãi, lỡ chân rơi xuống. Không thấy sông đâu, chỉ thấy vực sâu thăm thẳm. Hoảng sợ cố vùng vẫy, chợt tỉnh giấc mà không rõ hư hay thực. Cảm rõ tiếng đàn lưu luyến ở tâm thức, hương xạ mỹ nhân còn vương vấn đâu đây.

Sau đêm ấy, Bổi thấy bồi hồi, chợt nỗi nhớ quê dâng đầy, da diết. Thân xác như nhẹ không, mọi ham muốn đều thấy tầm thường. Vài ngày sau, Bổi từ chối việc ban thưởng của Quang Trung dành cho, nằng nặc xin lui về làng cũ, lại làm thứ dân.

Sau này có người hỏi: “Ông khó nhọc với nhà Tây Sơn, được yêu thế, là lúc hưởng phú quý, sao lại về?” Bổi đáp: “Sinh ra ở Mỗ Tương, gốc là nông dân. Người ta, gốc gác nông phu, trong li loạn, đa phần thường là liều chết hạng nhất, song thời bình nếu có quyền chức, dù to hay nhỏ, đều tìm cái vui thú, hưởng lạc làm đầu. Tìm mọi sự thoả mãn tới cùng cực mọi dục vọng khiến không chỉ riêng mình đứng bên vực thẳm, mà còn dẫn quốc gia tới bại vong, đổ nát. Từ khi ta nghe tiếng đàn bên sông, tự giác ngộ, thấy trên đời này, điều khó nhất, không phải là khám phá, chinh phục thiên hạ, khó nhất, cần thiết nhất là tự khám phá bản thân. Biết được vậy, tất bao lo lắng, ưu phiền tự tan biến mà vui sống. Việc quan trường vốn cần nhiều sở đoản, thủ đoạn, luôn phải đối phó, ham hố nó, tức tự chuốc lấy bất an. Người ta ở đời cần vui sống và bình an. Việc lớn nhất, nặng nhọc nhất của một đời người, ta đã trả xong rồi, vinh hoa phú quý vốn là phù vân, lại tựa vào kẻ khác, ắt như loài tầm gửi. Tựa người khác mà sống, muốn là mình cũng khó được là mình. Rốt ráo, cây đổ thì loài sống nhờ tất chết.”

Quả thực, Bổi sống như đã định. Vải chọn thứ mộc, ăn thường dùng thức quê mùa, gặp việc gì, dẫu buồn vui thế nào cũng bình thản ứng xử, nên khuôn mặt khi nào cũng tươi mới.

Về làng ông mở lớp dạy học. Cũng không nhiều trò. Có điều là, ai tới xin học đều xem tướng rồi mới nhận. Có người tò mò lại hỏi vì sao, Nguyễn Bổi nói: “ác thiện đều hiện ra bản mặt, người thiện đọc mười cuốn sách may sáng thêm ra một điều; kẻ ác đọc một cuốn sách làm thêm mười điều xấu”. Khách hỏi: “Sách vở không thay đổi được số phận ư?” Đáp: “Không! Người vô duyên, chữ nghĩa đầy mình càng thâm hiểm sâu ác. Có duyên, tự giác ngộ. Hình tướng sẽ thay đổi, nên nói tướng cao hơn số!”

Bổi về già vẫn ham trau dồi kiến thức. Ông không chỉ ham đọc mà còn thăm thú nhiều nơi, học nhiều điều hay ở thiên hạ về khuyến dụ cho dân làng. Mỗ Tương biết nghề làm giấy, nay thêm nghề thêu, khảm, nên nhiều người no đủ.

Việc dạy trò, cuối đời ông có thuật dùng tay sờ bài của trò mà biết hay hoặc dở. Có khách, xưa nay vẫn mến mộ ông tới, thắc mắc, hỏi, đọc bằng mắt, sao lại dùng tay dờ? Nguyễn Bổi đáp: “Văn người ta, hay dở là từ khí chất nội tâm. Khí tạo độ đậm nhạt của dòng chữ trên mặt giấy. Kẻ tiểu khí, nông cạn, khi viết không làm chủ được mình, buồn vui bất thường, chữ nghĩa lên xuống, gợn cả trong ngón tay ta.”

Lại hỏi, thế nào là hay dở?

Bổi vuốt râu, thản nhiên:

- Văn chương, đọc mãi, viết mãi cũng thành trơn tru. Đấy mới chỉ như vỏ cây, nước sơn bên ngoài.

Khách lại hỏi: “Có trước thì có sau?” Bổi tiên sinh rót đầy chén rượu cho khách, khen biết vấn đáp. Nói tiếp: “Viết văn giống đóng thuyền. Đóng thuyền phải nổi trên nước, chở được mới là thuyền. Vậy trước hết cần đạt! Thuyền cũng có dăm bảy loại. Thứ chỉ để chuyên chở vật nặng, thứ chở người, loại chở trâu bò, chó, ngựa… lại phải theo thế nước, lòng sông, nên dài ngắn, to nhỏ tất đều khác nhau. Thợ giỏi là kẻ đóng được nhiều loại thuyền. Loại ấy hiếm. Đa phần thiên hạ chỉ giỏi sơn phết, văn thơ tràng giang cũng chỉ một bài, khác chi đóng thuyền một kiểu thì không thể đi cùng khắp sông nước”. Khách cãi: “Thăng Long có nữ sĩ dòng Tân kì nhân nức tiếng làm thơ chỉ vài người hiểu. Cao lương mĩ vị đâu có cho kẻ tầm thường?” Bổi cười: “Nguỵ văn thường lộng ngôn. Thứ văn xảo ngôn lộng ngữ cũng là dạng quê mùa biến tướng. Cũng là loại “dĩ cùng tắc biến” mà thôi. Bây giờ khối kẻ ở Thăng Long tự nhận là Cây Văn nhưng mấy kẻ biết, Cây Văn hình dáng ra sao? Người làm ra văn khác chi người làm ra thóc, gạo, rau cỏ… Văn chương nên lấy gốc vì người, rễ bám vào đất, nước tất có hồn cốt phong hoá; cành lá sum suê, tán rộng, bao dung được nhiều tầng lớp.”

Khách hỏi: “Xin nói rõ hơn đường văn thế nào?” Bổi đáp: “Đường văn như đường cày trên mặt ruộng. Nông phu làm ra thóc gạo, nuôi dưỡng con người. Người văn là người dùng chữ mà lay động, dung dưỡng tâm hồn kẻ khác. Đấy là hay. Muốn thế phải biết đau nỗi đau của đời, vui với hạnh phúc của người, giãi bày ngay thẳng tấm lòng tôi mà hợp với ta, san sẻ được với ta. Chữ nghĩa muốn người tin, nên bình nhiên, êm ả chảy. Uốn éo tưởng kỳ khu dụng công là hỏng. Xảo ngôn, mưu mẹo chỉ như anh thợ khéo. Lạm dụng đại ngôn là cái thùng rỗng. Văn chương suy cho cùng, không phải là bao nhiêu chữ, biết bao nhiêu việc. Có khi kiệm lời, nói hết được tâm ý của vài người, vài việc đã là tài. Hay phải như gió lớn, sóng cả: lay động, dung dưỡng, an ủi, khích động… được tâm hồn người. Văn bậc thượng thừa cổ, kim đều làm hết thảy mọi tầng lớp cảm động!” Lại nói, văn chương có ba loại, loại nói tới mà không tới là vất, loại nói tới mà tới là đạt, loại không nói tới mà tới là siêu thặng, tuyệt chiêu trong thiên hạ. Đấy không phải là lời ta.

Khách lại hỏi, sách thiên hạ vô kể, tiên sinh học thế nào? Nguyễn Bổi bảo: “Khách có cuốn gì không?” Khách đưa ra cuốn sách mới mang từ Trung Hoa về. Nguyễn tiên sinh điềm nhiên đốt, hoà tro vào rượu đầu be uống cạn. Xong, vuốt bụng ba cái, rồi lựa bút viết ngay một bài thơ, khách thấy toàn là đầu chữ của mỗi chương sách mình viết. Đọc, thấy rõ lời lẽ dung dị, tao nhã thần tiên, ý tứ gói gọn cả bộ sách vạn chữ nói trên mà không thấy bóng dáng của người ở đâu nữa.

Khách phục lắm. Lui ngay. Không hỏi nữa.

Học trò theo ông tới khi ông mất cộng lại chỉ chưa đầy trăm người. Ông thường tuỳ theo tính khí từng người mà khuyên nhủ sự tiến thân. Có người học dăm năm đi thi, nghe ông ra làm quan, có kẻ nghe ông về cày ruộng, có kẻ vâng lời về đánh xe ngựa. Tuy chức phận khác nhau, nhưng ai ai cũng đủ ăn. Và, quan trọng hơn là tất cả, tự họ đều thấy vui sống và bình an.

Sau Bổi mất. Không đau đớn gì. Một tối vào nằm rồi đi như ngủ. Có người bảo, gần sáng có tiếng đàn như xa như gần. Quả thực trong nhà sớm ấy tràn ngập mùi hương hoa tinh sạch. Yên tĩnh lắm. Mộ rồi cũng chẳng xây đắp to cao gì. Một đêm mối đùn thành gò cao. Thiêng! Ai có việc gì khó khăn tới cầu, ông cũng ứng mộng, chỉ lối thoát. Trong làng, khách văn dần quên ông, nhưng những phường thợ vẫn nhớ, đóng tiền của, lập miếu thờ, gọi nôm na là Miếu Ông Bổi. Hàng năm, các phường giấy, thêu, khảm đều có lễ. Lễ to hay nhỏ tuỳ thời, nhưng bao giờ cũng không thiếu sách mới của thiên hạ để dâng. Những bộ sách được dâng, nếu thực hay, sau lễ hội đều đổ sắc thắm vàng như qua lửa. Sách dở, ba ngày tự mục, mủn, tan vụn thành cát bụi.

Làng Ngọc Hà - Bính Tuất

3-Nuốt sách

Bấy giờ Nguyễn ánh vừa tiêu diệt được nhà Tây Sơn, đóng đô tại Phú Xuân. Đất nước liền bờ cõi, không còn chiến tranh triền miên như trước, nhưng tại Bắc Hà, đám sĩ phu kẻ nhớ nhà Lê, người tiếc nhà Tây Sơn, kẻ thờ vua mới là Nguyễn ánh. Vì thế có người bảo: “Đất nước yên bình, nhưng tâm thức bất yên.

Mỗ Tương, thời xa xôi trước đó, đám tuỳ tướng của vua ta, sau khi đánh tan giặc xâm lăng ngoại tộc ra quấy phá kinh thành, đã được đức vua ban thưởng theo công tích. Ngoài việc được thăng phẩm trật, và thưởng chiến lợi phẩm, họ còn được mang về xóm Vạc hơn chục tù nhân dòng tộc hậu duệ của giặc Chế. Trong số đó, có kì nữ gốc gác hoàng tộc. Dung nhan mặn mà, đàn hay múa giỏi, nhưng khuôn mặt khi nào cũng ủ dột sầu não. Làng có ba họ lớn Trịnh, Nguyễn và Hoàng.

Năm nọ, có con trâu điên lồng trên cánh đồng, suýt húc chết người họ Trịnh. Một gã nông phu họ Nguyễn dũng cảm, liều thân vác cày đón đầu, quật bừa mấy cái, hạ thủ trâu. Để trả ơn, nhà họ Trịnh bèn cho không gã lực điền nữ nhân kia. Ba năm sau, sinh được một bé trai. Đặt tên Huy, đệm là Phất. Họ Nguyễn trong làng Mỗ vốn không có thanh thế, muốn con có chữ, bèn sắm lễ, tới miếu Nguyễn Bổi, cầu xin rất khẩn thiết. Canh năm, mộng, thấy có người lay dậy, chỉ mặt nói: “Ông sinh con tinh hổ. Môi dày. Quầng mắt thâm. Bản ngã, thông minh, sau có danh tiếng, nhưng là danh tiếng của loài cầm thú”. Cha Phất Huy nghe vậy, sau đó buồn lắm, nhưng vẫn cố cho Huy lên Thăng Long ăn học.

Phất Huy tới tam thập vẫn chưa làm được trò trống gì. Nhiều khi phải phiêu dạt. Được cái, chịu khó, chẳng từ nan việc nào, miễn có tiền để sống. Thậm chí có lúc sa cơ, nhập bọn lũ thảo khấu, liều thân buôn lậu qua biên giới. Có lúc lại thay lốt, dạy trẻ trâu kiếm ăn qua ngày. Tới bốn chục tuổi, Huy vẫn là thường dân. Không biết vận chưa tới, Phất Huy lòng đầy oán khí, ấm ức tiết cả ra mặt. Vì vậy khuôn mặt y vốn thô kệch, quê mùa, tù hãm, nay lại thêm hai quầng mắt xám, nom càng nặng nề, âm u.

Bấy giờ, chính sách của Nguyễn ánh chú ý tới Đàng Trong nên đời sống dân Bắc Hà, sau nhiều cuộc chiến triền miên rất thảm hại, kể cả đám quân sĩ từng có công đánh dẹp nhà Tây Sơn.

Phất Huy tìm về Thăng Long, thân cô thế cô, y muốn giao du với đám văn sĩ mà chưa có dịp. Bấy giờ, ở nam Thăng Long bọn văn sỹ Ngọc Chung Tử, Đặng Ân, Thụ Nguyễn, Thuỵ Vũ, Thị Anh… thường hay tụ họp đàm đạo văn thơ, vui vẻ lắm. Có dịp quen với Đặng, Phất Huy ngỏ lời muốn nhập bọn. Biết y là kẻ mới lập bập về Thăng Long, lạ nước lạ cái, Đặng vón nhân từ, vui vẻ nhận lời tiến dẫn. Vốn một thời lam lũ, đa phần bè bạn là đám giang hồ, Phất Huy không tường luật lệ giao du nơi đô hội, y hỏi, thưa Đặng tiên sinh, em ra mắt mang gì tới? Đặng nghĩ Huy nghèo, bảo, bọn này đủ rượu nhạt, đến với nhau là đủ. Về nhà, Phất Huy nằm nghĩ, cho rằng, thời thóc cao gạo kém, chắc bọn họ cũng đói, bọn sĩ phu khách khí hay nói vậy, chắc thử rộng hẹp lòng mình. Nhỏm phắt dậy, giắt mấy tiền vào cạp quần, ra chợ. Y tính, sáu người, thể nào có kẻ cũng mang rượu thịt tới, ngày đầu mình cũng không nên bủn xỉn. Mua một chân giò lớn, nặng tới ba cân, đem về vườn nhà thui đen, cẩn thận bọc lá chuối.

Đúng hẹn, Huy đến. Thấy cả bọn đã tới từ trước, đang uống rượu bình thơ. Phất Huy rút phắt chân giò thui từ túi vải nhàu nhĩ, quệt mồ hôi hột, đặt xuống chiếu. Đám văn sĩ nói trên vốn là người tứ xứ, nhưng về Thăng Long đã lâu, dẫu có đói cũng chẳng ai nghĩ, sự ra mắt của Huy quá thực tế tới tầm thường là vậy, đều trợn mắt, lè lưỡi. Để tỏ lịch thiệp, Đặng mời Huy an toạ, khen chân giò béo. Vốn nhạy cảm, Huy hiểu ánh mắt của mọi người. Nghĩ, mình bị chê mọi rợ quê mùa, ngượng lắm. Bụng tức giận vẫn cố cười. Từ đó, y nuôi thêm mối căm hờn phải nén.

Sống ở Thăng Long vài năm, giao du với đủ hạng văn nhân, lại ngậm hờn bấy nay, y suy nghĩ nhiều đêm, lao tâm khổ tứ, mọi sự dồn kết vào đúng tết Nguyên Đán năm ấy, Huy phát tiết làm thông chín khúc luận nhiều việc ở thiên hạ.

Văn Huy có giọng riêng, mang sắc lạ, chẳng giống ai bấy nay trong đám văn nhân Bắc Hà. Những chuyện y bàn ở chín khúc, mang sự suy ngẫm, nung nấu rất riêng về nhân tình thế thái, đặc biệt là cái hư hỏng của người đời. Sĩ phu Thăng Long bấy nay khiếp nhược trước sự trả thù của nhà Nguyễn với bầy tôi của Nguyễn Huệ, giờ có người nói hộ lòng mình, nên văn Huy được truyền tụng. Cũng có người xét nét nói, văn Phất Huy kiêu bạc, lạnh lùng, thiếu cái bao dung, nhân ái của văn nhân. Quả vậy, văn y hồn vía sắc nhọn, toát lạnh, bàn tới người mà như con hổ bình thản đang rau ráu nhai xương, nuốt thịt, con rắn cạp nia trợn mắt nuốt gọn con vật lớn trong rừng. Đôi khi, thấy như y cười man dại, sờ nắn, vạch, bóp, ỉa đái,v.v… tự nhiên chẳng kiêng kị những dung tục tầm thường, đặt cả lên giấy trắng, gây bàn ra tán vào. Thiên hạ đa sự, Phất Huy nổi tiếng khắp Thăng Long bấy giờ.

Từ vô danh tới hữu danh chỉ là khoảnh khắc ngắn, Huy thoắt thấy mình như đệ nhất thiên hạ, thêm kiêu ngạo, dần chả coi ai ra gì. Ngay đối với bạn bè thủa hàn vi, các danh sĩ Thăng Long như thi sĩ Ngọc Chung Tử, văn gia Ngô Bội, là hai kẻ từng quảng bá văn Huy, giúp y giao du trong đám văn chương khắp Thăng Long, cũng bị y gọi là đứa, là thằng; vắng mặt tỏ lời khinh bỉ, xáp mặt thì lạnh lùng như người chưa từng gặp gỡ.

Sau chín khúc ấy, Phất Huy có viết thêm dăm cuốn sách nữa, không tự biết bút lực đã cạn. Những sở đoản của y hay dùng như đối thoại, ngôn từ sắc gọn, ẩn dụ khéo léo, hàm ý sâu sắc, giờ mang nhai lại, không được như xưa. Văn y, rặt sự khéo chửi xéo thiên hạ, mà sự cay độc vốn là sở đoản, có lúc được coi là tuyệt kĩ, giờ dùng nữa, thiên hạ nghe nhiều thấy tầm thường. Thói thường, ngay ở chợ, chửi mãi, lại thiếu cái ý vị, thâm sâu, thừa tục tĩu… thiên hạ nghe nhiều thành nhàm chán, nhạt nhẽo.

Biết vậy, Phát Huy trở bút, bàn đủ thứ trên đời. Khốn nạn thay, trời chỉ cho y chín khúc, nay ham muốn nặng sâu, càng viết càng phô bày kiến văn nông cạn, kiến thức hẹp hòi. Các chiêu thức, xảo thuật mù mờ, lập lờ, hai mặt, vốn dung doạ được đám ít đọc, giờ đây chỉ gây chút bực mình cho kẻ chẳng muốn rác tai. Có người ôm bụng cười khi thấy rõ y tham vọng không cùng, lại hay lạm bàn tới Phật đạo,v.v…

Biết mình cô độc trong đám văn nhân, Huy cố tập hợp vài kẻ quanh mình, chẳng kể bọn giang hồ, lưu manh, cả lũ chuyên vay nặng lãi, gây thanh thế. Có kẻ bày y làm quán Tửu hoa văn đài vừa kiếm tiền, vừa thu nạp đệ tử. Quán mở ra được ba bốn năm, cũng nhiều kẻ hiếu kì mò tới. Trong quán, các món chó, gà, dê, lợn đều sẵn; đôi khi có món lẩu thập cẩm đặc biệt, gọi là khẩu tục nhục bản năng, bán đắt gấp ba bốn lần giá thường, nên khách khứa cũng thưa thớt dần, hết kẻ tò mò, chẳng còn ai lui tới nữa. Tửu hoa văn đài hoang phế, thành nơi chó ỉa, mèo đái.

Năm nọ, Thăng Long có hội thả diều thơ ở Vân Các. Phát Huy vốn chẳng biết làm thơ, như cũng mò tới. Thú chơi thơ vốn là thú chơi tao nhã được người Bắc Hà rất trọng. Thơ thiên hạ nhiều cung bậc, có cao và thấp. Tới hội, Phất Huy lớn tiếng luận về thơ phú, một mặt đem thơ đám tay chân, thân tín ca ngợi hết lời, một mặt vơ đũa cả nắm đám thi nhân, không kể cao thấp, xa gần, già trẻ, lớn tiếng chê bai, coi họ như cỏ rác. Nhiều người biết y có tài châm chọc, lời lẽ đanh ác, đều tránh. Phất Huy trơ trọi trong đám hội, muốn sự chú ý của người đời, tỏ ra chẳng sợ ai, như tự nhập đồng vào các nhân vật y đã phóng tác, giả say, gạt đổ các bình hoa Thuỷ tiên các bậc trưởng lão thường bày cho thanh tao trong lễ hội xuống đất, rồi vạch quần đái tồ tồ vào đống hoa giữa thanh thiên
bạch nhật.

Trong đám tới thả thơ năm ấy, có người dáng đậm, kiểu quê mùa, thấy nghịch cảnh, bèn tới bên chỉ mặt, cất lời mắng Huy. Điệu bộ nhẩn nha, nhưng lời lẽ tao nhã, ý lý rạch ròi, phân minh, phê phán toàn bộ văn chương lẫn hành vi bấy nay của Huy. Y ngượng lắm, vì từ xưa chưa có ai luận hạch về y rành mạch, đen trắng tới vậy. Y tím tái, uất kết như có cục đá chặn ngang cổ. Đám tay chân của Huy muốn bênh, kẻ nắm tay, đứa phùng mang trợn mắt toan xông lại. Từ trong đám đông thảo dân có người xưng là khách thơ, tự nhiên đến đứng bên gã nhà quê, trừng mắt lửa. Huy thấy vậy, bối rối, đám tay chân cũng chùn tay. Trong đám văn nhân, có lão già đã rụng hết răng, họ Hoàng, xưa vốn được nhiều người tôn trọng, nay vừa được y mời chén rượu lạt ở đầu hội, chả nghe, không biết đầu đuôi sự việc ra sao, thấy cả bọn Huy lúng túng liền bênh vớt, nói bừa một câu: “Thôi, về đi. Chấp gì bọn lợn cỏ bẩn thỉu”.

Bị lên án giữa thanh thiên bạch nhật, kẻ phê lại chính danh, xưng rõ họ tên, tuổi tác, quê quán, nên Huy căm lắm. Về nhà, cả tháng trằn trọc không ngủ, viết một đoản văn mấy ngàn chữ, đối đáp lại việc ở sân thả thơ. Biết tài mình không thể át được lí lẽ của người kia, Huy một mặt khen vờ mấy dòng, mặt khác trở trò vu cáo, bịa đặt nhân thân hai người trên, lấy hình hài của người mà
chê bai, bỉ thử, lại bôi bác, đặt vài hư chuyện. Xong, y cho người phát tán khắp nơi. Việc tới tai nhiều người, có kẻ nói, thương thay cho Phất Huy, mơ ước làm đại nhân mà xử sự như đứa chơi bi đánh đáo.

Năm Phất Huy đã luống tuổi, thường lảm nhảm nhiều câu vô nghĩa một mình. Tự cảm thấy cô độc. Có người mách nên về làng nằm mộng bên miếu Ông Bổi sẽ biết lành dữ. Vốn chẳng tin ai, nhưng tính toán thấy cũng không tốn kém lắm,
y về làng, tắm gội, bỏ ít bạc lẻ mua dăm bộ sách mới, vác chiếu tới miếu Ông Bổi chờ mộng. Nằm hai đêm chưa thấy linh ứng; tới đêm thứ ba, về khuya, đã mệt mỏi, vừa thiêm thiếp ngoài thềm, thấy có người tới lay dậy, dẫn vào trong miếu. Chợt sênh nhạc vang lừng. Từng chồng sách người đời dâng cúng đang cháy đượm trong lò hoá. Có tiểu nữ từ hậu cung ra, bưng bê rượu, đổ tro sách lắc đều, đoạn rót rượu ra mấy chén lớn. Ba bốn vị trên toà tự nhiên cạn uống, rồi đàm luận từng câu từng lời trong sách của thiên hạ tiến mà không sai một chữ.

Thấy thế, Huy sợ lắm, nhưng vẫn khấp khởi, trộm nghĩ, bấy nay, mình bị chê là kiến thức lỗ mỗ. Giá biết thuật này? Thầm đoán, chắc họ dùng loại rượu đặc biệt, bèn rập đầu lạy, xin một chén rượu. Ba bốn vị trên điện thấy thế cười lớn, rồi cũng sai thị nữ ban cho y một chén. Y đón chén rượu, uống. Miệng chén chưa rời môi đã thấy bụng đau quặn. Kịp chạy vội ra ngoài miếu nôn thốc tháo. Ba người trên cao cười ha hả. Người râu dài ngồi giữa, như bức ảnh truyền thần Nguyễn Bổi treo chính giữa ban thờ, bấy giờ cất lời:

- Duyên trời cho bọn ta gặp ngươi chốn này. Phép ấy chỉ dùng cho bậc thượng thừa, chính nhân, không chỉ đọc vạn sách mà phải có chân tu, trải đủ, thấu mọi kiếp khổ nạn, biết cái đau của thiên hạ, biết nỗi vui của trăm nhà… nhận đủ uy khí trời đất nước Nam này. Ngươi tinh hổ, cậy có chút tài mọn trời cho mà không tự biết mình, chỉ gầm ghè cắn người, bất kể cả bạn cũ, kẻ ân nghĩa với ngươi tới khi sắp chết cũng bị ngươi bỉ báng, coi họ như ruồi muỗi nhặng xị… Ma tật ấy chỉ của loài cầm thú, không bao giờ có bạn bè đồng loại. Thấy người phê phán mình thì chơi trò vu khống bịa tạc. Đấy đâu là quân tử chính nhân? Thích nói tới Phật mà không thấu lời Phật dạy, trước không tự hiểu mình, sau là càn rỡ, rặt lời bệnh hoạn ma quỷ, vậy là chỉ đọc mà không học. Như loài vẹt kia, có ăn cao lương mỹ vị, đào tiên vườn Vương Mẫu cũng chỉ ỉa ra cứt xanh. Tâm khí sinh từ lục phủ ngũ tạng. Lòng dạ ngươi hiểm ác, tăm tối, tức lục phủ ngũ tạng hỏng hết, sao có thể tiêu được tro sách như bọn ta. Thôi, về!

Dứt lời, tất cả biến hết.

Huy thấy mình nằm tơ hơ trên sàn gạch lạnh. Nhìn ra ngoài, bãi cỏ y vừa nôn ra mật xanh mật vàng đã cháy sém, táp đen, bốc mùi tanh hôi không ngửi được. Hoảng sợ, chạy về nhà ốm liệt, suốt ngày đêm chỉ uống nước mà nằm nôn ra rớt dãi xanh đen, tanh tưởi đến chó đói cũng không dám gần, có trót ngửi phải, đều chạy tứ tán mất tăm.

Vài bữa nữa, chất nôn ra nhạt dần tới lúc sắc trong lại thì thấy sảng khoái. Bệnh vài ngày sau tự lui, trở lại bình thường. Càng về già, y càng cô độc. Thảng có ai tới thăm, tỏ ra bất cần nhưng đêm tối vẫn ngửa mặt lên trời, than sinh bất phùng thời.

Về già, y lui về vườn cũ, nơi tổ tông để lại, biết phận câm lời. Từ đó tự thấy nhàn thân. Nhưng không viết gì nữa.

Năm cùng tháng tận, Huy không ốm mà chết. Người nhà theo lời dặn đem xác thiêu. Lửa khét hai ngày, mùi hôi tanh toả ra ám cả một vùng. Lửa tắt, thấy trong đám đất dưới giàn thiêu có khối kết rắn như đá, nom tựa hình đầu hổ nhe răng, trợn mắt như chực cắn xé ai. Người nhà cho là điềm xấu, đem chôn nơi đám đất gần miếu. Vài ngày có trận mưa lớn, đầu hổ trồi lên, chó mèo thảng qua đều tránh. Dân làng thấy vậy, bèn rê khối đá ấy đặt ngoài cửa miếu thay cho chó đá giữ cửa.

Mấy miếng đất xưa nơi Huy nôn xuống, trồng cây gì cũng không mọc, nuôi chó mèo nơi ấy đều chết. Thảng có ở gần thì cả chó với người đều gầy yếu xác xơ. Nay vẫn vậy.

Ngọc Hà - Xuân Bính Tuất


(1) Đọc Thất Huyền Cầm.

Chuyện trong một làng

Cách đây 4 năm tôi viết Chuyện trong một làng,gồm ba truyện ngắn Thất huyền cầm, Miếu ông bổi và Nuốt sách. Nhóm truyện này hoàn toàn bịa tạc.

Khi đọc Nuốt sách có người bảo, tôi ám chỉ nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Tôi không muốn thanh minh với bạn văn về việc này, khi quả thật có nhiều chi tiết của đời sống, vô tình làm nên một biểu tượng nào đó, chứ thiết nghĩ rồi đây người ta chỉ nhớ tới ông Thiệp, qua các văn bản của ông, chứ nhớ gì tới mấy bộ dạng đời thường. nên 10 năm nữa, khi nhiều người đương thời chết đi, tiệt giống, ai còn nhớ tới hình dong ban ngày của một nhà văn đương đại để suy tư Nuốt sách là TN nói về Thiệp.

Mượn một ít đời sống để nói lên quan niệm về đời sống là việc của cá nhân nhà văn, chứ văn chương không cần nói xấu một cá nhân nào. Xin ai đó hiểu cho như vậy.

Xin mời bạn đọc đọc lần lựơt các chuyện về một làng

I-Thất Huyền Cầm

Chúng tôi phải qua rất nhiều thủ tục mới được tay trưởng phòng kỹ thuật Viện Khoa học hình sự cho sử dụng chiếc máy đọc văn bản kín. Bạn tôi, nhà sử học Dương Trung Nam thận trọng trao chiếc hộp cho viên trung tá còn trẻ, đeo kính gọng Titan rất mode. “Xin anh hãy cẩn thận cho. Cuốn sách trong này nằm dưới lòng đất nhiều năm. Động mạnh sẽ tan vỡ!” - “Vô tư đi! Tôi biết, tôi biết.” Viên cảnh sát cười. Dường như mọi sự nguy hiểm với cảnh sát đều là trò đùa! Anh ta đặt chiếc hộp đựng sách vào băng chuyền nhỏ, bấm nút; y như hải quan kiểm tra hành lí trên các cửa khẩu sân bay.

Đúng là thời đại công nghệ tin học! Chúng tôi hồi hộp theo dõi. Trên màn hình hiện ra lờ mờ hình ảnh cuốn sách. Chỉ sau vài thao tác gõ gõ, bấm bấm bàn phím, màn hình xuất hiện rất nhiều đường thẳng cắt ngang, bổ dọc, xiên chéo và, như có phép thần, trước mắt chúng tôi hiện lên ảnh nổi một pho sách vuông vức. Những trang sách trong hình ảo lật như chớp để không đầy hơn hai mươi giây công việc đã kết thúc.

Theo lời viên cảnh sát, tia laser đã quét lên cuốn sách, đo đạc, chụp lại tất cả các dấu vết và dựng lại nó trong không gian ba chiều. Phần mềm của máy tính đã kiểm soát, phân loại tất cả các vết tích và bóc tách, sắp xếp từng mặt của mỗi trang sách. “Sự đo đếm, chụp các mặt cắt chính xác tới phần triệu milidem!” Anh ta giải thích.

Việc dịch cuốn sách ngay sau đó cũng thực hiện bằng một cú nhấn phím. “Program này do một tay rất trẻ viết. Sự chuyển đổi ngôn ngữ tuyệt vời tới độ có thể bắt chước hệt giọng văn của Sử ký Tư Mã Thiên hay đại loại một giọng cổ văn như thế!” Viên trung tá tiếp tục nói nghiêm túc: “Bây giờ, nếu các anh muốn, chỉ cần gõ lệnh: truyện ngắn hiện thực phê phán, giọng Nam Cao. Máy sẽ viết ngay một truyện ngắn, y hệt như văn phong Nam Cao. Kể cả loại văn chương gần đây có tên rất kêu là Hậu hiện đại! Tha hồ logich hay phi logich, phi lý hay ẩn dụ, đa tuyến… Có điều, máy viết chứ không phải người viết, nên vẫn chỉ là sự lặp lại. Lắm mẹo vặt, rất kĩ thuật, nhưng không có chi tiết sáng tạo, thiếu không khí đời sống vốn sinh động, vắng hồn người, gọi là văn bản lập trình, y như những trang văn của bọn đưa ra ý kiến: viết văn không cần cảm xúc, không cần vốn sống.

Tất nhiên, cái chỗ mà Dương Trung Nam trót đụng ngón tay, hôm mới tìm thấy cuốn sách cổ ở giếng Hoàng Thành, đã tan ra thành khói thì không máy nào đọc được. Chính vì thế mà bản dịch nhiều chỗ mất chữ, đành phải thêm vào văn bản vài từ mới cho rõ nghĩa; vì thế xin các nhà phê bình văn học tôn kính chiếu cố, kẻo lại bảo chúng tôi bắt chước tồi văn của người xưa, giả mạo văn bản cổ.

Để bạn đọc tham khảo văn bản này, tôi xin chép cả ra sau đây.

** *

…(Mất chữ - ghi chú của Dương Trung Nam)

Năm Mậu Thân, Tôn Sỹ Nghị chia quân làm bốn đạo tiến vào nước Nam. Để công việc được suôn sẻ, trước đó, Nghị sai Thống ngầm cho tâm phúc luồn về nước.

Một tối, có kẻ tới Tây Hồ, vào đền Quán Thánh, lén lút dán bùa yểm sau lưng thần Trấn Vũ.

Qua đêm tới sáng, bên sông Hồng, quãng bờ tả Bồ Đề bỗng tự đâu dạt về đoạn trúc bám vào đất, rồi nảy ra độc một đọt măng. Măng vun vút lớn, thoắt thành cây trúc sắc vàng tươi, thẳng tắp chọc thẳng lên trời, nom xa như tia chớp.

Khúc sông ấy có hai cha con người đánh cá, cha tên Nguyễn, con tên Thanh. Thanh mồ côi mẹ từ khi nhỏ, nên rất yêu cha, không rời nửa bước. Một đêm người cha nằm mộng, thấy có người tới lay mình dậy. Nói, ngày ấy, tháng ấy, năm ấy, cho con trai bỏ nghề sông nước, lên bờ hành khất. Tỉnh giấc, thấy trăng tròn ngang đầu, trong sương mù bàng bạc như có ai vừa đi trên mặt nước, rẽ sóng trắng xóa ra xa, rồi mất hút.

Mùa đông Đinh Mùi. Cha con cả ngày không đánh được con cá nào. Đến chiều tàn, đang loay hoay quăng chài bên bờ tả, chợt nghe bên bờ hữu có tiếng ai gọi đò rất gấp. Thanh động lòng, nói cha chèo sang. Mùa đông, gió bấc hun hút, mưa phùn buốt thấu xương, trên bờ không một bóng người. Lại đói và mệt, cha con cắm thuyền vào đúng nơi cây trúc mọc. Thanh lên bờ kiếm củi nấu cháo. Thấy cây trúc đẹp, cầm dao muốn chặt. Vừa vin vào, trúc tự gẫy ra đoạn đẹp nhất, dài nửa thước, có bảy lỗ kiến đục, đều nhau như người khoét. Lên thuyền lấy dao tiện sơ đã thành cái tiêu. Lúc chờ cháo chín, buồn, đặt tiêu lên môi. Từ xưa, Thanh chưa khi nào thổi tiêu. Bấy giờ môi người gặp trúc, trúc tự ngân lên, chứ không phải người thổi. Âm thanh phát ra rất huyền cảm, hân hoan khôn xiết. Đúng lúc, có bầy cá lớn từ đâu tới mừng giỡn, đua nhau tự nhảy vào lòng thuyền.

Người cha thấy vậy, bấm đốt tay thấy đúng ngày ấy, tháng ấy, năm ấy. Nhớ giấc mơ xưa. Lấy cá đổi đủ gạo, gà, rau, hương nhang, làm mâm cúng linh thần, tổ tiên. Hai cha con hạ lễ ăn uống. Nguyễn để con ngủ say liền cõng lên bờ, rồi phóng hoả đốt thuyền, nhảy vào trong vòng lửa mà hoá.

Tự đấy Thanh không còn phương tiện, buộc phải lên bờ làm hành khất và thổi độc một điệu. Thổi mãi, thổi mãi, tiếng tiêu càng nhuần nhuyễn, điêu luyện. Sau này có kẻ nhớ, chép lại khúc tiêu ngày ấy, đặt tên là khúc “Gọi đôi”. Đấy là tiếng tiêu trầm, buồn, khắc khoải, day dứt không yên; nhưng quyến rũ, lay động, làm nhiều người rơi lệ, động lòng mà tặng Thanh cơm áo qua ngày.

Lại ở Đàng Trong, có gia đình đào nương, vợ tên Hương, trước sinh hạ một đứa gái, tên Huyền Cầm. Đứa bé khi chào đời trong nhà đầy hương xạ. Cầm vừa sinh, tóc mềm tuyền đen đã dài đến gót chân. Vợ chồng yêu con lắm, nhưng vẫn thở ngắn than dài vì tới mười lăm tuổi, đứa trẻ vẫn không nói, muốn gì ra hiệu. Lại chẳng khi nào cười, nhưng mỗi bận mẹ hát, cha đàn, mặt nàng tươi như hoa cỏ tiết xuân. Thấy thế, cha Cầm bày cho con các ngón sở trường. Cầm thông minh khác người. Ba ngày vững nhịp, bảy ngày nắm hết âm luật, chín ngày tự nghĩ ra những khúc điệu nghê thường. Ai được nghe, thảy đều kinh ngạc, cho là kì nhân.

Một ngày nọ bên Hương Giang, những người chèo đò trên sông thấy từ đâu bay về con chim lớn, nhả xuống một hạt cây, rồi hướng tới nhà Cầm, liệng ba vòng, kêu chín tiếng. Tại nơi chim nhả hạt, mọc lên một loại cây xanh tốt sum suê, thân gỗ mềm mại. Có kẻ trong thành tự khoe đọc nhiều sách thánh hiền, ra xem gọi tên cây là Ngô đồng. Đầu năm Mậu Thân, chiều ngang cây được nửa thước. Huyền Cầm ra hiệu đòi cha mẹ đẵn cây ngô đồng, tự mình vẽ kiểu, nhờ thợ khéo đóng một cây đàn. Lại tự cắt suối tóc mềm, óng đen tựa mun, kết thành bảy sợi dây, mắc lên đàn. Vừa so cung, hộp đàn rung vang. Huyền Cầm ôm đàn lướt ngón, buông thứ âm nhạc huyền diệu; khi êm ái, rì rào như nước chảy, khi cuồng nộ như sấm chuyển đất rung. Người cha đếm sợi dây đàn, lấy tên con ghép vào, đặt tên đàn là Thất Huyền Cầm.

Cuối năm Mậu Thân, Quang Trung tự xưng Hoàng đế, kể tội bọn Tôn Sỹ Nghị, chiêu thêm binh mã, chia thành năm đạo, làm lễ tại Phú Xuân, tiến ra Bắc. Cô gái 16 tuổi giả trang, buộc vuông lụa đỏ lên mái tóc ngắn, ôm đàn, từ biệt cha mẹ theo Quang Trung.

Viên tiểu tướng coi việc lấy binh, thấy Cầm câm, mặt mũi non nớt, bèn đuổi về. Cầm không về, tha thiết tỏ ý quyết theo, làm y phải chuyển ý, sai lo việc củi lửa cơm nước.

Quang Trung tiến ra Thanh Hoá. Việc binh như lửa cháy, quân sĩ gặp tiết đông giá rét đi mới vài ngày đã mỏi mệt. Thấy vậy Huyền Cầm mang đàn chơi. Nghe đàn, ai nấy bừng bừng phấn khích như vừa uống liền ba chung rượu ngon. Đòi đi ngay. Quang Trung thừa thế nước lên, núi chuyển, đốc quân lấn chiều, mượn sớm mà đi. Đi một ngày sau bằng ba ngày trước. Chỉ dăm hôm đã tới Tam Điệp, hội binh với bọn Ngô Văn Sở cho quân ăn tết trước. Lại hẹn bảy hôm sau ăn tết lại ở Thăng Long.

Quang Trung có viên sử quan, tên Dật. Dật xưa vốn gốc Chàm, là môn khách của Nhạc. Sau Nhạc yếm thế, bỏ Nhạc theo Quang Trung. Dật vốn xuất thân trong đám giang hồ, học hành chút ít, lại rất có khiếu văn chương, đam mê nhã nhạc. Khi nghỉ ở Tam Điệp, gặp đêm gió bấc mưa phùn, lòng dạ bồn chồn, bèn vời Huyền Cầm mang đàn ra sau núi đánh chơi. Cầm chối từ. Dật coi Cầm là đám tiểu tốt, giận lắm, nên không chép kể việc Cầm trong chính sử. Y còn viết truyền kì, đưa cho đám binh lính mang huyên truyền trong dân. Nói, quân năm đạo, chia nhiều cơ, cơ chia nhiều tổ ba người, thay nhau khiêng cáng, nên thần tốc. Văn Dật vốn lỗi lạc. Nhưng lòng kiêu bạc, bụng dạ lại hẹp như lỗ kim, nên văn tuy lạ mà không chính, khéo mà không thanh. Nói theo Cam La đời Tần, ấy là thứ “quỷ văn” sinh trong tâm thức điên loạn. Nhờ tài, có giọng riêng, đầy sức mê hoặc và ám ảnh, nhất là với đám thảo dân thường vốn nhẹ dạ, cả tin, thiếu bản lĩnh. Thiên hạ sau này vẫn có kẻ tựa vào Dật mà luận! Hỏi quân trang đã nặng, lại khiêng cáng nhau thì sao đi nhanh bằng tự thân. Thế mới biết sách có loại nguỵ thư, gốc quỷ dai dẳng, u ám, rơi rớt tới hôm nay!

Trong quân còn có tên Hiệp, xưa là giám mã cho Quang Trung. Trong trận đại thắng Xiêm có công, được cất nhắc. Hiệp vốn ái. Nay thấy Cầm mày ngài, mắt phượng, ngỡ trai tuấn tú, mê lắm. Đêm mò vào. Mang sở đoản, bàn chuyện văn chương nhã nhạc. Cầm im nghe, sắc mặt không giận, không vui. Sau, Hiệp lộ chân tướng. Đầu nắm tay, cuối quỳ xuống van vỉ, rồi hôn hít sờ soạng, đưa tay Cầm vào chỗ kín. Cầm không thuận. Hai bên giằng co va chạm một hồi. Cầm mảnh dẻ yếu ớt vẫn cố thoát hiểm tay võ biền bạo dâm hót giọng văn. Lúc Cầm bị đè ngửa ra đất, Thất Huyền Cầm tự nhiên rung lên giận dữ. Hiệp tỉnh ra, sợ chạy. Cầm ôm đàn, hai hàng lệ rớt rơi như ngọc vãi, tự nhiên cất lên lời. Than rằng: “Thậm nguy!”

Hiệp nhờ đêm ấy phát hiện Cầm giả trai. Muốn lấy công, sớm sau phát giác với Quang Trung.

Huyền Cầm bị đè cổ, mớ tóc ngắn sổ chớm vai chờ chém vì tội dối trá. Cố ngửa mặt lên, xin cất lời khảng khái kể hết việc lai sử. Nữ tướng Bùi Thị Xuân bấy giờ trong quân, đứng ra bênh vực Cầm. Quang Trung cảm khái việc lạ. Tha! Lại kể tội trái luân thường đạo lý của Hiệp, thét võ sĩ mang chém. Cầm thưa, đạo lớn bao trùm thiên hạ sinh trước cả muôn loài. Hoàng đế nên tuân theo nó thì bền. Nay Hiệp cơ thể do cha mẹ sinh ra đã vậy, chỉ nên xét tội ức hiếp, không nên lấy ái mà khép tội. Quang Trung nghe. Khen, biết nhẽ tự nhiên. Hiệp làm hoạn quan từ ấy.

Có người bảo, Quang Trung đã tha lại nghe theo Cầm vì thấy Cầm quá đẹp. Vời Cầm tới nghe đàn, yêu lắm, định sung vào đám hầu nữ. Nửa đêm Quang Trung đang ngồi tính kế đánh Tôn Sỹ Nghị, bỗng nghe tiếng Thất Huyền Cầm xa vẳng lại. Khúc nhạc ban ngày nghe êm ái lạ thường là thế, trong đêm vắng lại như trăm ngàn mũi mác thích vào óc. Sớm sau Quang Trung sai người chu cấp cho Huyền Cầm ba chục lượng vàng, rồi đuổi. Cầm không van tiếc, lấy vàng, cảm tạ Quang Trung, cứ nhằm hướng Bắc mà đi trước quân sĩ hai ngày.

Bấy giờ ở Thăng Long thành, Tôn Sỹ Nghị biết Quang Trung hành động, vẫn giữ vẻ bình tâm, ngày ngày uống rượu, đánh cờ. Mỗi tối, y sai người tới quan sát sắc khí hình tượng thần Trấn Vũ, rồi mới yên trí đi nằm.

Huyền Cầm đi tới đâu đàn cho đám nông phu nghe tới đó. Lại dùng vàng giúp nhà nào thật đói khổ, nói thác là của Quang Trung. Nhờ thế quân Quang Trung sau đi đến đâu, dân chúng vạn nhà hưởng ứng, đồng thanh, kẻ dâng tiền bạc, người giúp công sức. Tính ra, trai đinh theo thêm mười vạn. Khí thế rất lớn.

Cầm vào tới Thăng Long, bèn lên Tây Hồ đánh đàn. Tiết đông, vào lúc chiều tà, sương bạc đang dăng kín cả mặt hồ bỗng tan dần.

Lại nói, người thanh niên thổi tiêu tên Thanh, mấy đêm bồn chồn không yên, chẳng ngủ, thường uống rượu thậm say cho quên. Chiều ấy, Thanh nghe tiếng đàn, sực tỉnh, quăng góc rượu dở, xốc áo, cầm tiêu thổi điệu Gọi đôi, lần theo lời Thất Huyền Cầm trong gió mà tới. Giờ Hợi thì Cầm và Thanh gặp nhau.

Bấy giờ không có ai biết rõ thế nào. Có một đoạn phú của Ngô Thì Nhậm sau viết, chẳng hay kể lại việc đó chăng:

…Một tiếng ngô đồng/ thơm bừng quán vắng/ ngửa trông lên trời/ Trúc vàng như nắng/ ánh khói chập chờn/ Người tiên lại chăng?/ Sóng cầm cuồn cuộn/ Tiếng địch thổi chăng/ Chim chóc hót lượn/ Người bừng giấc chăng/ Cá rồng ẩn hiện/ hồn nước lại thăng…(1)

Trai gái gặp nhau, lấy tiếng nhạc thay lời thiết tha tao nhã. Tiếng tiêu đầy, trầm, kiên quyết. Tiếng Thất Huyền Cầm khi sắc như nước, khi mềm nhẹ như mây. Cả hai riêng mà thành chung, quấn quít, run rẩy hoà thanh, tạo thành thứ âm nhạc phi thường, chưa bao giờ đất Thăng Long được nghe. Tự đâu có đàn chim lớn, đông không đếm được, kéo về bay lượn, hót vang cả khúc sông. Ngay khi ấy, vị từ đền Trấn Vũ, trong chập choạng hương nến, thấy bức tượng như chợt rùng mình, vươn vai sau giấc ngủ dài. Sợ, rập mình xuống đất, vái lạy liên hồi, thấy chớp xanh tự đâu phóng ra, vút tận trời, vỡ thành ngàn vạn ngôi sao nhỏ rơi xuống quanh Thăng Long. Trên mặt Tây Hồ, dân đánh cá còn thấy nước cuộn lên như sôi. Có kẻ trông thấy con trâu rực rỡ sắc vàng, nổi lên chỗ nước cuộn, bơi một vòng, kêu một tiếng tha thiết như gọi ai, rồi lặn đi đâu không rõ. Mặt hồ văng vẳng tiếng chuông, tiếng khánh hoà theo tiếng tiêu, tiếng cầm, tiếng trâu vàng, âm âm vang tới tận Hồ Gươm. Quân sĩ Tôn Sỹ Nghị đi tuần thấy nổi lên một con rùa đen dài tám thước, ngang năm thước, đầu to như cái thúng, hai mắt như hai bó đuốc, giận dữ trừng trừng nhìn bọn ngoại bang. Chúng hoảng sợ bỏ chạy, cấp báo chuyện lạ tới Nghị. Nghị đang đánh cờ nghe tin rùng mình, toát mồ hôi hột, buông rơi cả quân cờ trong tay lúc nào không biết. Suốt đêm không ngủ, sớm hôm sau Nghị sai người đến Quán Thánh, không thấy lá bùa sau lưng bức tượng thần. Từ đền sớm ấy quét dọn, vun rác rưởi lẫn vào đám lá rụng. Đốt. Khói hắc ám bay xám cả một góc đền.

Nghị sai thám tử dò xét khắp nơi, biết việc lạ khởi từ cặp trai gái kia, đoán là linh khí trời Nam tụ hội, bèn sai lính đi bắt. Huyền Cầm và Thanh được tin, chạy ra hướng sông. Quân Nghị đuổi gấp. Tới sông, cả hai dắt tay nhau toan nhảy xuống sông cho nước cuốn đi. Chợt thấy từ đâu có chiếc thuyền nhỏ lao đến như tên bắn. Người chèo đò tóc râu cước bạc, gõ chèo hát:

- Mong người tri kỉ chừ, hai phương trời

Lòng ta lòng ta chừ, giờ gặp tri âm

Lòng trời lòng ta chừ, đối mênh mông

Nhìn nước nhìn mây chừ, không thẹn thùng

Hoà xong một khúc chừ, hết một chung

Hết một chung thơm chừ, rồng gặp mây

Giờ ai việc nấy chừ, mệnh người yên ổn

Mệnh nước yên ổn chừ, đến hẹn lại lên(1)

Lại giục Cầm và Thanh mau xuống thuyền. Đám lính của Nghị bắn tên xuống như mưa bấc. Tên bay tới thuyền đều lả tả rơi xuống nước. Ra giữa dòng thì neo lại. Bảo Thanh: “Ngươi xong việc rồi!” Rồi nói với Huyền Cầm: “Còn người thì chưa, giờ hồn phách nhanh theo ta xuống Ngọc Hồi cho kịp”.

Việc kế đó thuật lại sau này, mỗi người một khác.

Kẻ nói, dứt lời lão già, một mũi tên lạc bay thẳng xuống thuyền cắm đúng yết hầu Huyền Cầm. Tự đó một dòng huyết đỏ phụt ra chẻ đôi cây tiêu. Nước sông Hồng mùa đông trong vắt, sau ngày ấy vẫn giữ sắc phớt hồng. Khi cây tiêu bị chẻ đôi, Thanh ngã ra bất tỉnh. Sau dậy, không nhớ việc xưa, cũng chẳng thấy ông già và Huyền Cầm đâu, nhảy xuống nước bơi như cá, đi đâu chả rõ.

Thuyền nhỏ trôi tới Ngọc Hồi mắc lại. Đấy là trúng ngày mồng năm tết Kỉ Dậu, Quang Trung đánh Ngọc Hồi. Ban đầu cả trăm thớt voi xông lên, bị thần công của Hứa Thế Hanh bày trận bắn cản dữ dội, tung vòi giậm chân thình thịch tại chỗ. Bỗng gió đưa về văng vẳng tiếng nhạc từ phía bờ sông. Trăm thớt voi đồng thanh rống vang, chẳng chờ quản tượng thúc búa, cũng nhất loạt ào lên. Người người thấy thế như chẳng biết chết, hợp thành một khối “đông như kiến cỏ, thế lực ồ ạt như triều dâng”(1). Ngọc Hồi tan, Quang Trung coi như cầm chắc thắng trong lòng tay.

Người khác nói, Cầm trúng tên. Trước khi viên tịch, hét lên một tiếng chẻ cây tiêu làm hai mảnh. Khi Thanh tỉnh lại, không thấy ai, tựa nước trôi về Gián Khẩu theo quân Quang Trung lập công, rồi được cất làm tướng. Đoạn sau nói về trận Ngọc Hồi như trên.

Còn có lời đồn khác là, Thanh không nhớ việc xưa, nhảy xuống nước theo dòng trôi mãi, sau dạt vào làng Linh Hoa. Nhà họ Phạm, thấy Thanh giỏi đánh cá, khéo việc ruộng, yêu mà gả con gái. Thanh xin ở riêng, sinh con đẻ cái đông đúc, lập thôn Linh Hoa ven sông Thái Bình. Mãi mãi đánh cá, làm ruộng. Thôn này tới nay vẫn còn lệ dịp tết Nguyên Đán, lấy thân chuối làm hình nhân trôi sông, vớt lên đem về miếu thành hoàng làng làm lễ nhập hồn. Dân thôn Linh Hoa tới ngày nay khi nông nhàn vẫn khoét tiêu, sáo rất tài, mà không ai biết thổi cho ra hồn tiêu. Có đứa trẻ nghịch cắt ngắn, mắc vào diều bay lên, tự cất tiếng vi vu, não nùng luyến tiếc xa xôi, suốt đêm ngày không mỏi, bay xa trăm dặm. Nhiều làng khác bắt chước diều sáo, nhưng tiếng kêu không nơi nào vang xa như diều sáo Linh Hoa.

Tại khúc Chương Dương, hơn chục năm sau có người tên Du họ Nguyễn, tự xưng là khách thơ, một đêm có việc đi qua, nghe trong tiếng nước trôi văng vẳng khúc tiêu, điệu cầm đan hòa, vọng từ mặt sông vẳng lên. Du tự đó hứng khởi lạ kì, nôn nao tâm dạ, mãi sau yên được khi đã đặt bút viết hết Truyện Kiều. Sau, không làm được khúc nào hay hơn. Có lẽ, Kiều của Du thấm Huyền khúc cầm tiêu đêm ấy, gói được hết cái tình ý bách khoa người Nam, nhờ thế sống mãi.

Tất cả là vậy, chép cả ra đây. Con cháu đời sau biết câu chuyện Cầm Tiêu mà hiểu vì sao ta không coi châu báu ra gì….

Năm…

Thăng Long.


(1) Trích Phú Ngô Thì Nhậm, có nhuận sắc vài từ cho hợp cảnh chuyện (Nguyên tác trích từ bài Đăng Hoàng Hạc phú lâu).

(1) Trích Phú Ngô Thì Nhậm, có nhuận sắc vài từ cho hợp cảnh chuyện (Nguyên tác từ nằm mộng Núi Thiên Thai).

(1) Trần Nguyên Nhiếp - A Nam quân doanh kỷ yếu - Bản trích chép tay.

Quyên - Tiểu thuyết - ( Tiếp Theo)

Chương IX

Đời người ta, dù muốn hay không, đại đa số đều sống theo bản năng mất quá nửa thời gian sống, đó là khi phải ngủ, bài tiết, hấp thu… Sự sống ở trong đó. Mầm sống tồn tại khách quan ngoài ý trí và những giáo lí chủ quan của con người cũng được dung dưỡng trong những khoảnh thời gian tưởng như vô nghĩa ấy. Cũng để tồn tại, con người ta khi vào con đường cùng, thì bản năng thường là nơi nương tựa, tỉ như cái bàn đạp, để bật lên, nhao ra, thoát khỏi mọi nguy hiểm, kể cả cái chết.
Mấy đêm liền Quyên trằn trọc suy nghĩ mãi việc đi hay ở.
Cô nhớ lại thời gian ở với Phi, tiếng chân rón rén rồi yên lại bên cửa phòng cô, cảnh Phi thủ dâm dưới ánh sáng hắt ra từ chiếc vô tuyến. Cô nhớ cả những tâm sự, lời tỏ tình và mong muốn lấy cô làm vợ của anh. Còn ở đây. Kumar bao giờ cũng nghiêm túc với cô. Mỗi khi anh đi làm về, Quyên đều biết rất rõ từng bước chân khe khẽ Kumar bước nhẹ trên sàn gồ mỏng. Cô hồi họp, lắng nghe, nghe rõ tiếng Kumar xối nước để ngâm mình trong bồn tắm. Và đôi khi cô thở dài sau tiếng cửa  phòng anh khép nhẹ nửa giờ sau đó.
Kumar không hề tỏ tình với cô. Ánh mắt của anh dành cho cô bao giờ cũng là sau ánh mắt dành cho Thanh Vân. Cũng chưa bao giờ anh nắm tay cô như cái nắm tay của Phi. Nhưng ai mà tin được điều đó? Cô chẳng đã từng nghe thấy vài lời thì thào của đồng hương của cô ở cửa hàng bán đồ Châu Á bữa nào. Những ánh mắt nhìn cô soi mói. Cô nhớ buổi nào ở quán rau Châu Á, có một người nom chả quen biết, lân la hỏi chuyện cô và nói vỗ mặt: “Em đẹp thế, đàn ông Việt thiếu gì, sao em lại ăn ở với thằng da đen ấy!”
Người kia nói thế, Quyên thừa hiểu cái từ tế nhị anh ta dùng. Hai từ Ăn ở trong trường hợp này, rõ ràng mang một nội hàm chẳng tử tế gì. Nói trắng ra là họ cho rằng, cô đã ăn nằm với Kumar!
Cô đoán chắc rằng, ở cái trại tị nạn Hộp kẽm, thế nào chuyện của cô cũng là đề tài mang bàn luận trong các ngày nghỉ, bên phòng bếp và phòng giặt đồ. Ừ, ai mà tin được rằng, cô và Kumar vẫn ai nấy một phòng riêng.
Đối với Quyên, tình dục không chỉ là khoái cảm, thậm chí là sinh con đẻ cái, nối tiếp dòng sinh diệt, mang tính dòng chảy miên man của tạo hóa. Theo cô, con người khác con vật ở chỗ đó. Hai con người giao lạc với nhau mà không có tình yêu, khi chỉ rặt lạc tính, khác gì đám trâu bò, chó, ngựa thể hiện nhục dục mà thôi.
Người ta, từ nhận thức tới ý thức, Người hơn ở chỗ có yêu thì mới giao cấu với nhau. Bởi theo cô, tình dục trong tình yêu, đều có văn hóa của nó. Sự giao hoan của người ta khi có tình yêu, sẽ thăng hoa lên một cấp độ mới, cho người ta hạnh phúc vô biên và gắn kết chặt cả tâm hồn và thể xác với nhau thêm, chứ không chỉ đem lại khoái cảm như Phi thủ dâm, để sau đó lại chán chường như anh tâm sự. Tất nhiên, bây giờ cô cũng chẳng còn trinh trắng gì, nhưng cô không thể chung giường với Kumar, khi cả hai chưa có tình cảm với nhau. Mà Kumar có yêu cô không? Hay với cô, anh chỉ dành tình thương cho cô như thương một đứa em gái hoặc chị gái của anh? Vô duyên thế! Cô tự cười mình. Còn cô hình như có một tình cảm nào đó chưa rõ lắm khi đứng bên anh và ngửi thấy mùi mồ hôi của anh? Có phải cô đang tiến dần tới tình yêu với Kumar không? Hay cũng chỉ là một tình cảm nào đó na ná như tình yêu mà thôi. Nhưng cô là người muốn mọi sự  phải rõ ràng, hay đúng hơn là cô không chịu được sự mập mờ, chen nhau không biết đâu là thật và giả, ảo và thực mà ở Kumar rất khó nhận ra, trong tình cảm của anh đang dành cho cô và con gái Thanh Vân. Tất nhiên bây giờ cô đã là người từng trải. Người từng trải thì phải sống với lương tâm của mình, sợ quái gì dư luận.
Nhưng liệu có thể kéo dài mãi tình cảnh này không? Cô cũng không thể nhờ vả mãi ở anh, nếu khi quan hệ giữa cô và Kumar chỉ đơn giản là tình bạn, thì việc chung nhà cũng chẳng nên quá kéo dài. Điều thứ hai quan trọng hơn nữa là cô không thể chịu đựng mãi với sự không rõ ràng của mối quan hệ mà cô mong cầu nó lớn hơn điều mà Kumar biểu hiện. Cô yêu Kumar thực rồi chăng? Quyên kéo chăn trùm kín đầu. Cô cười thầm và sợ rằng có ai đó biết cô cười, nắm được những ý nghĩ trong đêm tối của cô.
Có lẽ tuần tới cô sẽ ra sở ngoại kiều xin một chỗ ở.
Nhưng sự đời mấy khi đúng dự kiến của Quyên?

* * *

Đầu một tuần trong tháng năm gió lại về. Những con gió ở Châu Âu từ áp thấy trên biển Bắc tràn về mạnh tới kinh hãi. Gió cứ thổi ào ào, cuồng đảo, tàn nhẫn lay tận gốc những hàng phong, bồ đề bên đường phố, cuốn theo những đám lá khô xác còn sót lại của mùa đông trong các xó xỉnh, trên các ống máng, ném lên trời, rồi lại buông xuống. Lá khô chợt có khi như đàn bướm ma bay tứ tán ngang sườn những ngôi nhà chọc trời. Gió mạnh tới mức thổi bạt cả người đi lại trên những phố quang. Từ thứ Ba, giữa trưa gió ngưng, thì bất ngờ mưa rồi lạnh. Thời tiết chuyển lạnh, như mùa đông đột ngột quay về thành phố, làm những viên đá chữ nhật trong vách tầng hầm cũng đổ mồ hôi hột.
Thanh Vân viêm họng và ho ngay lập tức từ thứ hai. Gần một tháng trời sau tuần ốm ấy, con bé lại mọc liên tiếp thêm bốn cái răng. Nó quấy triền miên ba tuần. Có hôm đi làm về Kumar thấy Quyên ngủ gục bên ghế, tay còn cầm cốc nước. Lay dậy, Quyên mở mắt nhìn Kumar vài giây rồi lại gục xuống. Thực ra cứ ba hôm một lần Quyên cùng bé đều đặn tới phòng khám, nhưng ở đây người ta chẳng tống kháng sinh vào người con bé như ở Việt Nam thành ra nó cứ quấy, mà chỉ quấy vào đêm.  Răng mọc hết thì bé lại chơi như thường. Hai ba ngày thấy ôn ổn, Quyên đã định thu xếp hôm sau tới sở ngoại kiều.
Đêm hôm đó tới tận một giờ mà Kumar vẫn chưa về. Cô gọi điện thoại  tới cửa hàng bánh. Không một ai nhấc máy. Lòng Quyên bỏng rát hơn lửa đốt. Cô ngồi yên trong phòng khách, bật tivi chuyển bao nhiêu kênh mà không theo dõi nổi một chương trình trọn vẹn. Thiếp đi trên ghế tựa Quyên bừng giấc khi có chuông điện thoại réo gọi. Tai cô ù lên khi nghe rõ giọng của Kumar yếu ớt báo tin anh đang nằm tại bệnh viện.
Thì ra trong đêm ấy, một người lái chiếc xe tải đâm thẳng vào hông chiếc xe Kumar lái. Xe Kumar lăn đi ba vòng. Cửa kính vỡ hết. Những mảnh kính vỡ, bắn ra đâm vào cổ, vào mặt làm anh mất khá nhiều máu. Lúc tỉnh dậy trêm băng ca xe cấp cứu, anh mới biết mình bị tai nạn. Anh bảo, cái cổ đã bị gông cứng bằng một vòng kim loại có bọc lớp bông vải mầu trắng nên khó cử động. Anh giải thích, đã nhờ cô y tá gọi điện thoại về cho mẹ con Quyên, nhưng cô y tá lại bấm nhầm số máy cuối, không báo tin được. Tiến hành xong một loạt xét nghiệm và chiếu chụp anh mới biết mẹ con Quyên vẫn chưa hay việc anh bị tai nạn thì đã gần sáng.
Quyên buông máy lao vào bếp chuẩn bị bữa sáng cho con ăn. Cô lay con dậy và dỗ mãi, nó mới ăn hết ca sữa.
Chẳng chờ sáng hẳn. Quyên mặc vội chiếc áo ấm, quấn thêm khăn, ôm con lao ra đường. Đường vắng. Tay ta-xi rất thuộc đường, chạy cũng nhanh mà cô vẫn cảm thấy chiếc xe chạy sao chậm thế.
Cầu thang máy dường như chạy và mở chậm hơn mọi ngày. Quyên lao vào phòng nơi Kumar đang nằm.
Cô hốt hoảng và đau xót khi nhìn thấy Kumar bị thương khắp mặt, vai trái và đầu gối cũng quấn băng trắng toát.
Kumar khi đó mặc mỗi chiếc quần trong, nằm trên chiếc giường bệnh trắng tinh. Thân hình đen cuồn cuộn cơ bắp của Kumar nổi bật trên nền ga trắng muốt.
Bình thường Kumar vốn dĩ lao động từ nhỏ, rừng núi và khí hậu quê hương anh cũng như nòi giống tạo nên cho anh có thân hình tráng sĩ rất đẹp: vai vuông, bụng thon, ngực nở như hai bát úp. Nhưng chẳng mấy khi anh để lộ thân hình anh trong nhà. Bây giờ cái hình thể cade của Kumar đập vào mắt Quyên, dầu có những viền băng, bông trắng xóa ở tay, ở chân và cả trên cái cổ vẫn để không chỉ Quyên nhận rõ nét đẹp của cơ thể anh! Bấy giờ có thể nói anh như mẫu hình của bao họa sĩ tạc nên bức tượng đồng hun đặt trong các lâu đài cổ miền Tây nước Đức hay Pháp. Cái hình thể ấy, gợi cho người ta hình ảnh một chiến binh huyền thoại như Otenle vừa từ chiến cuộc trở về.
Quyên không xúc động vì điều đó. Dầu là lần đầu tiên cô nhìn thấy vẻ cường tráng đẹp đẽ của anh. Chiếc áo lấm tấm máu treo trên giá áo làm cô xuýt khóc. Thế mà Kumar vẫn tươi hơn hớn khi thấy mẹ con cô. Anh nhổm người dậy định đón con Quyên thấy anh đã nhao tới, nhưng có lẽ cái cổ đang đau, bị cái đai sắt cố định, không cho anh dễ dàng cử động. Thấy vậy Quyên đặt con cạnh anh.
Đứa trẻ bò trên bụng Kumar. Nó vươn đôi tay nhỏ xíu dờ vào cằm, vào cái cố định cổ. Kumar vuốt tóc nó, cù vào nách nó và anh cười như thể chưa có tai nạn gì vừa xảy ra. Nụ cười mới tươi làm sao.
Chỉ vậy thôi làm mà cho Quyên nhói đau. Cô chợt nghĩ tới Dũng. Giá như Dũng biết cảm thông và rộng lòng, có một tấm lòng như Kumar?
Cô nắm lấy bàn tay anh. Chắc Kumar đau lắm. Cô hỏi, Kumar còn đau đớn ở đâu? Kumar trìu mến mỉm cười nhìn cô và lắc đầu. “Chỉ ngày mai anh khỏe thôi! Em đừng lo lắng gì!” Kumar nói vậy mà Quyên bỗng khóc. Những giọt lệ chậm chảy lăn xuống rơi đúng bàn tay đen có lòng tay trắng của anh. Kumar khẽ kéo Quyên vào sát mình. Anh nắm chặt bàn tay Quyên, như muốn không rời, khi tay kia vẫn ôm lấy con cô. “Em đừng khóc nữa.” Kumar chỉ nói được như vậy rồi im lặng, hết nhìn Quyên lại nhìn đứa bé. Họ im lặng như vậy tới mươi phút.
Chàng trai da đen hơn cả bóng đêm Kumar nắm lấy tay Quyên. Quyên cứ để yên tay mình trong tay anh và trong lòng cô trào lên một tình cảm mà cô cũng chẳng thể hiểu, đó là tình yêu hay tình thương của cô dành cho anh. Giờ đây, khi cô cảm thấy cùng đau đớn như thấy rõ những đau đớn trên thân xác và những vết thương còn tươi trên khuôn mặt đã thân thuộc với mẹ con cô. Cô không hiểu rõ, cắt nghĩa được tình cảm của cô là tình yêu hay chưa khi trong cô sự gắn kết, chia sẻ, biết ơn ngày một lớn lên để sẵn sàng dành cho anh, sẵn sàng đáp lại tiếng ngân nga đôi lứa, dù chưa rõ ràng, khi Kumar chưa cất thành lời dành cho mẹ con cô.
Có lẽ mình yêu Kumar rồi! Cô tự thấy xấu hổ, mỉm cười ngượng nghịu, khi nhận ra trong sâu thẳm lòng mình ý nghĩ ấy.
Những bác sĩ và hộ lí bệnh viện đều nghĩ họ là một gia đình. Chắc vì vậy mà họ bàn giao cho Quyên những vật dụng cá nhân tìm thấy trên xe Kumar. Cả chiếc ví với đủ loại giấy tờ. Cô cầm lấy và hỏi: “Em mang về nhà nhé!” Kumar gật đầu. Đôi mắt anh nhìn vào mắt Quyên, ánh lên niềm vui, đầy tin cậy, âu yếm.

* * *

Kumar vốn có một sức khỏe phi thường. Anh hồi phục sức khỏe rất nhanh và bản thân anh cũng không muốn nằm viện. Anh bảo:”Quyên này, ở viện buồn lắm”. Nhưng cái chính là anh sợ mẹ con Quyên vất vả, khi ngày nào cũng đùm kéo vào thăm anh, vì vậy mới có năm ngày nằm viện mà anh đã nằng nặc xin bác sĩ về nhà.
Bệnh viện cũng không thiếu chỗ để tới mức đồng ý cho Kumar xuất viện ngay. Sáng sớm thăm bệnh, bà bác sĩ Lisa tươi cười gật đầu đồng ý phê giấy xuất viện. Người ta đều thấy rõ khả năng hồi phục phi thường, đầy tố chất thanh xuân trong người thanh niên này. Nhưng Docter Lisa vẫn kiểm tra lại sức khỏe anh rất thận trọng. Bà bắt anh phải kiểm tra lại máu, tim mạch, chụp lại xương cổ một lần nữa và, quyết định cho anh về với lời dặn dò chu đáo và đặt lịch kiểm tra lại sức khỏe.
Hai tuần kế đó nghỉ việc ở nhà với Quyên và Thanh Vân có lẽ là hai tuần rất vui của cả ba người. Căn hộ luôn tràn ngập tiếng cười của bé Vân. Tiếng giả làm bò, dê và đôi khi làm hổ của Kumar. Những khi ấy dù đang làm bếp, Quyên cũng ngó vào nhìn con và Kumar chơi đùa với nhau và lòng cô thốt reo lên như có tiếng nhạc đinh đong cho cô những giây phút bồng bềnh, thanh thản, hạnh phúc.
Muốn Kumar hồi phục nhanh hơn, ăn ngon miệng hơn, nhằm bù lại số máu đã mất, giữa những bữa ăn đặc Đức giầu đạm, Quyên đi chợ Châu Á mua bánh đa, miến, mộc nhĩ và nấm hương. Cô chế biến hết miến gà lại miến lươn. Cá sốt cà chua và cả món cá chép to nướng nguyên con khi đã ủ kín trong muối trắng. Cô cũng làm món nem mà Kumar rất thích vào bữa cuối tuần và còn nấu món cari cay bỏng mồm theo đúng cách Kumar mô tả. Hôm nấu món ăn của quê anh, Kumar cứ ra, vào bếp ngó ngiêng, lại cười phá lên khi thấy cô suýt xoa, thổi phù phù mãi bởi miếng cari cay tê chùn lưỡi đầu tiên khi nếm trộm  trong bếp.

* * *

Tầu S.bahn của Đức có lẽ là loại tầu sạch sẽ, chạy nhanh và êm nhất Châu Âu. Các loại tầu đường sắt của Châu Âu có lẽ đều chung một ưu điểm kì lạ ở chỗ, chỉ sau vài giây đầu lăn bánh, đã đạt tốc độ tới hàng trăm cây số giờ. Người ta giải quyết các khâu kĩ thuật chống rung, ồn rất tốt, nên khi tầu chạy đạt tốc độ hơn hai trăm cây số giờ, thậm chí với tầu Zug liên vận, chạy tới sấp sỉ hơn ba trăm, vẫn êm ái như trôi trên thanh ray để trong toa êm tới mức không nghe tiếng va chạm của bánh sắt với đường ray. Có thể đặt một điếu thuốc lá thẳng đứng trên bàn ăn suốt chuyến đi dài mà điếu thuốc không bao giờ đổ.
Thứ bẩy này, Kumar dẫn Quyên và bé Thanh Vân tới thăm một khu công viên xa thành  phố. Họ lên chuyến S.bahn sáng sớm và sau chi nửa giờ đã tới ga cần đến. Cũng tại Quyên cứ mải nói chuyện với con gái làm Kumar không nhận ra ga cần xuống đã tới.
Đèn xanh, cửa đã mở hai giây, anh mới nhận ra ga phải xuống, nhìn thấy tên ga viết đen sẫm trên tấm biển đặt giữa sân chờ. Xuống nhanh! Kumar nói gần như quát và bế thốc bé Thanh Vân rời tầu. Anh nhẩy ba bước và đặt Thanh Vân xuống sân ga rồi theo quán tính ngoảnh lại.
Quyên vốn chẳng nhanh nhẹn gì. Cô vừa bước ra khỏi gian tầu thì chuông kêu, đèn dỏ và hai cánh cửa tầu sập ngay lại. Trong chớp mắt tầu lao đi kéo theo Quyên như nhấc cô lên khỏi mặt đất. Nên nhớ rằng, sàn tầu và sân ga có độ cao bằng nhau, nên trong tích tắc ấy, đôi giầy của Quyên quyệt sệt trên mặt xi măng sân ga. Hóa ra, khi bước khỏi tầu, Quyên ra ngoài rồi nhưng phần túi cô khoác trên vai vẫn còn mắc lại sau cửa bên trong tầu. Con tầu lập tức kéo theo Quyên đi bằng hai giây túi. Tình huống cực kì nguy hiểm, chỉ vài giây nữa, khi con tầu S.bahn đạt tốc độ một trăm hai mươi cây số giờ, Quyên chắc chắn bị đập tơi tả trên nền xi măng.
Giây khắc Kumar quay lại ấy, lập tức anh ý thức toàn bộ hiểm nguy. Kumar không còn thời gian tính toán, anh bay người, lao vụt tới Quyên như một con báo. Anh cố hết sức chạy vọt lên cho kịp con tầu, níu lấy vai Quyên và phát hiện ra hai giây túi đang căng xiết bả vai Quyên. Vung tay chém mạnh. Cú chém dồn hết cả sức lực của cánh tay cuồn cuộn bắp thịt đen bóng đã được rèn luyện bao năm tháng trong rừng, trên thảo nguyên, trong lao động và phiêu dạt bao nhiêu năm nay. Trong giây khắc hiểm nguy này, cú chém bỗng có thêm một lực mạnh khủng khiếp, không chỉ là cơ bắp của Kumar, làm đứt tung hai giây quai túi đeo vai của Quyên.
Tầu đã đạt tốc độ hơn trăm cây số vẫn cố kéo, theo quán tính, hất cả hai người văng ra tới ba bốn mét làm Kumar loạng choạng, dù vẫn tỉnh táo ôm chặt lấy Quyên, lăn ra sân ga tránh cái mép tầu nguy hiểm có thể néo họ kẹt vào, di nát họ.
Sự việc diễn ra chớp mắt.
Khi thấy mình bị kéo đi trên sân ga, Quyên thoáng thấy bóng con, cô hoàn toàn ý thức được điều nguy hiểm và hoàn toàn bất lực, vô vọng hoảng hốt tái xanh nhìn con, bởi hai sợi giây túi thật dẻo chắc cứ níu chặt cô với con tầu. Tích tắc ấy, cô không kịp nghĩ tới cả cái chết. Kể cả khi được Kumar giải thoát, nâng dậy, Quyên vẫn chưa khỏi bàng hoàng và bỗng cảm thấy hoàn toàn kiệt sức. Cô cố đứng thẳng mà chẳng được. Người mềm nhũn, Quyên đổ người vào Kumar, tựa thân vào anh hết sức tự nhiên.
Kumar thì tỉnh táo. Anh đỡ lấy cô. Ôm nhẹ lấy Quyên và đoi tay rắn chắc của anh cũng choàng nhẹ lên hai vai cô: “Tất cả qua rồi!” Anh nói.
Mãi cho tới sau này bao lần nghĩ lại, Quyên hoàn toàn hiểu rằng, giây phút Kumar lao ra bám lấy cô đấy, là việc thật cực kì nguy hiểm. Cả hai, Kumar và cô có thể bị kéo dài trên sân ga và đập xuống đường tầu như con lắc mà tan thây nát thịt. Kumar tất nhiên phải hiểu điều đó. Vậy mà anh vẫn lao vào bất chấp cả nguy hiểm tới sinh mạng của anh. Quyên nghĩ vậy mà trào lên khôn cùng trong lòng cô lòng biết ơn vô hạn.
Họ cứ ôm nhau tới hai ba giây giữa sân ga khi cảnh sát và nhân viên đường sắt rầm rầm chạy tới rồi dừng lại thở phào nhìn gã da đen ôm lấy gái da vàng, tóc đen sẫm một cách hết sức trìu mến trên sân ga. Chỉ tới khi Thanh Vân lẫm chẫm chạy tới bên họ, Quyên mới bừng tỉnh, buông tay khỏi Kumar và quỳ xuống ôm chặt lấy Thanh Vân:
-Mẹ của con đây!
Họ đi vào nơi công viên.
Suốt cả ngày hôm đó Quyên chỉ là cái bóng đi theo con và Kumar. Cô suy nghĩ miên man.
Tình yêu là gì? Cái gì đo đếm và xác định độ lớn của nó? Người ta dám liều chết cho cô thì điều đó chính là tình cảm lớn lao của Kumar dành cho cô chăng? Liệu ai, như chồng cô ngày xưa, anh có dám như vậy không? Quyên chợt nhớ tới dòng sông biên giới, những tảng băng nổi chập chờn trên mặt sông đêm vượt biên và bóng chồng lẩn sau dải rừng đầy băng tuyết. Chao ơi, sao buồn thế! Nhưng tại sao Kuamar không biểu hiện cụ thể gì về tình cảm với cô bấy nay. Hay anh chỉ yêu con cô mà tử tế với cô tới vậy. Rõ ràng cô thấy lòng mình đang thuộc về anh.
Tại sao mình không dám bước qua những làn danh mong manh vô hình nhưng vô cùng quen thuộc như lối mòn trong nếp nghĩ bao đời nay của những phụ nữ Châu Á, chẳng bao giờ dám bầy tỏ trước tình cảm của mình? Cô sẽ bầy tỏ tỏ tình cảm của cô với anh! Cô cần phải hiểu một cách rõ ràng tình cảm của Kumar, vì cô không thể chịu đựng mãi cảnh sống cứ mập mờ như hiện tại và cũng vì cô ý thức được, chỉ cần vượt qua làn danh bên kia, cô sẽ nắm được hạnh phúc đang có thể là hiện thực được Kumar che đậy ở một lí do nào đó mà cô chưa tường.

* * *

- Kumar này, anh nói đi!
Mắt Kumar như viên ngọc đen nhấp nhánh:
- Em bảo nói gì bây giờ?
- Anh có yêu em không? Quyên không hề cúi mặt xuống e thẹn như thủa đôi mươi. Đôi mắt của cô nhìn thẳng vào đôi mắt Kumar chờ đợi.
- Sao em lại hỏi anh như vậy?
Quyên ngần ngừ. Tại sao cô lại phải hỏi anh. Cô phải hỏi. Cô cần hiểu tình cảm của anh một cách rõ ràng. Người ta vẫn nói, tình yêu là tiếng không lời, không lời nhưng vẫn có thể nhìn thấy, nhận ra, thậm chí “cầm lấy nó” qua hành vi thường ngày của cặp trai gái nào đó. Ở đây, Kumar chẳng hề bầy tỏ, biểu hiện đi xa hơn. Một quan hệ thật là khó hiểu. Dù anh có tốt với mẹ con cô bao nhiêu chăng nữa, Quyên vẫn không muốn tình trạng khó hiểu, mập mờ này kéo dài, khi mà cô chứ không ai khác cần câu trả lời để hiểu rằng, anh có yêu cô không?
Kumar yên lặng giây lát. Anh đăm đắm nhìn Quyên trong đêm. Bàn tay anh chợt nắm lấy tay Quyên. Lòng tay úp lên mu bàn tay cô. Cử chỉ ấy thật quá đỗi dịu dàng với Quyên và làm cô thấy hạnh phúc, nhưng điều cô muốn bay giờ không phải chỉ là như vậy. Quyên rụt tay khỏi bàn tay Kumar:
-Không, anh nói đi. Em yêu anh. Anh có yêu em không?
Nói được câu ấy, Quyên tự thấy nóng rực mặt. Chính cô cũng không thể ngờ rằng, lời bầy tỏ của cô bật ra tự nhiên tới vậy.
Thực ra, Kumar đã yêu Quyên lâu rồi. Tình yêu vốn dĩ không thể định lượng và khó biết là nó khởi nguồn từ đâu. Từng ngày một, nó, tình yêu như mầm cây nhu nhú trên mặt đất, hít thở độ ẩm, không khí mà lớn dần lên và dần hình thành mầu sắc để người ta nhận ra chính xác “hình thù” của mối quan hệ mà Kumar bấy nay dành cho Quyên.
Những ngày đi làm về, anh chẳng thấy hạnh phúc vô bờ khi mẹ con Quyên đón cửa đó sao. Có hôm, anh chẳng thấy trống vắng tới vô cùng, nếu như những buổi trưa trở về không thấy Quyên trong căn hộ đó sao. Song tình yêu của anh lại không hề thể hiện như những người đàn ông khác. Dù là có mà điên mới không yêu một người đẹp như Quyên. Bao tháng nay anh đã bao nhiêu lần kín đáo quan sát, cảm nhận về Quyên trong những lần cô bộc lộ suy nghĩ, ứng xử, sống…tức là toàn bộ từ hình thức tới nội dung sống của một phụ nữ, biểu hiện tính chất “đàn bà” như thế nào. Điều anh quan sát để cảm nhận mà xúc động trước Quyên, anh dần tìm thấy, phát hiện, khám phá  trong sinh hoạt thường nhật và kể cả khi dạo chơi cùng mẹ con Quyên. Với anh, Quyên là một vẻ đẹp hoàn thiện, cả nội dung và hình thức. Cô tựa như đóa hoa vừa chúm chím ngậm sương trên cánh đồng tỏa hương, dầu là trải qua bao biến cố cô vẫn tinh khiết, dịu dàng bởi vì được bên cô bất kì ai cũng nhận ra, Quyên đó, cô mềm mại, cô nữ tính, cô nhân hậu, chia sẻ. Tất cả những điều ấy với hình thể tuyệt diệu, dáng đi, khuôn mặt Quyên thực sự tỏa hương, quyến rũ một cách lạ thường. Bản thân anh cũng tự biết, phần con người nữa trong anh thèm khát một lần ân ái ra sao trước vẻ đẹp kì diệu mà anh nhận thấy, nhưng còn trên cả đó là tình thương của anh với con Quyên, với cả Thanh Vân. Điều ấy thật giản đơn, khi mà trong hoàn cảnh đang tha hương, lang bạt bao nhiêu từng trải như anh, đứng trước một con người yếu đuối, mảnh mai như Quyên, nhất là với những gì đã mất mát chịu đựng mà Quyên đã trải qua, sao anh có thể dửng dưng, sao anh lại có thể không có một tình thương lớn lao luôn luôn thường trực để bao bọc cho mẹ con cô. Có lẽ đêm nay anh sẽ nói cho cô rõ, vì sao anh phải dấu kín những tình cảm của anh, khi anh là một người biết yêu tha thiết và trân trọng những gì anh nhận thấy ở cô gái Á Châu này. Anh sẽ bắt đầu thế nào bây giờ bởi nếu nói ra sự thật ấy, khi Quyên không một ngày sống ở quê hương anh, liệu cô có hiểu cho anh không, hay là cô có thể nghĩ rằng anh chỉ là một kẻ hoang tàn như trăm ngàn người đàn ông khác.
Kumar lại nắm lấy một bàn tay Quyên. Bàn tay phải của anh, bàn tay có vùng vàng chẳng khác gì nước da Châu Á vuốt nhẹ lên mu bàn tay cô:
-Cái xứ anh nó lạ lắm. Xin hãy tin anh! Theo chú anh kể lại, đầu thế kỉ 19, bộ tộc anh có một người kết hôn với một phụ nữ người Anh chuyên cung cấp hàng hóa tại thương cảng Silavattrai.  Sri Lanka khi ấy cùng nước Ấn có nhiều toán quân chống lại ách đô hộ của người Anh. Chính kẻ lấy vợ người Anh quốc đã dẫn đường cho quân Anh tiến vào dải rừng Anura và tiêu diệt hoàn toàn nhóm quân địa phương. Những người còn lại của dòng họ, đã báo thù bằng cách đột nhập vào thành phố bắt sống kẻ phản bội giải vào cánh rừng Anura và chặt đầu kẻ phản bội làm lễ tế các vong linh bị quân Anh tàn sát trong căn cứ. Từ đó dòng họ Sinnatuerrai  không được phép lấy người nước ngoài. Anh yêu em, yêu cả Thanh Vân của chúng ta. Nhưng anh không thể lấy em mà dấu diếm mẹ anh. Anh đang tìm cách mẹ anh đi Anh và bay sang đây. Không thể giải thích mọi điều qua thư từ điện thoại. Mẹ anh là một người tuyệt vời. Ở hoàn cảnh này chỉ có bà mới có thể quyết định chúng ta có lấy nhau được không.
- Như vậy chúng ta chỉ yêu nhau mà không bao giờ nên vợ nên chồng ư? Quyên nói.
-Không! Anh yêu em. Anh cũng rất yêu Thanh Vân , dù nó không phải con để nhưng bấy nay nó đã là máu thịt gắn bó với đời sống của anh ngày lại ngày. Nhưng phải chờ mẹ anh sang đã. Chỉ có mẹ anh mới có thể rũ bỏ lời nguyền ấy, khi bà biết, chúng ta yêu nhau không phải để chống lại dòng tộc Sinnatuerrai.
- Em tin anh. Nhưng làm thế nào mà mẹ anh có thể cho phép anh như vậy.
- Anh sẽ kể cho bà ấy về em. Mẹ anh là người rất thương yêu anh. Bà nhân hậu. Anh tin là bà cho phép. Kumar nói rồi kéo Quyên vào lòng anh.
Quyên ngước lên nhìn vào đôi mắt Kumar.
Bấy giờ đang là tiết thu. Những đêm thu bao giờ cũng ngắn hơn đêm đông và bầu trời khi đó tím xẫm lại. Trên cái nền tím sẫm cong cong thăm thẳm ấy, chi chít những ngôi sao tỏa sáng hệt ức vạn viên kim cương lấp lánh.
Rồi trăng. Chiếc đĩa bạc khổng lồ, tròn vành vạnh từ dải rừng xa dần dần dâng lên, trôi trong những áng mây tơ, làm tất cả những cánh rừng, những con sông, phố phường, thảo nguyên… tràn ngập thứ ánh sáng bàng bạc, lung linh và trở nên huyền diệu tới không ngờ.
Trăng cứ thế trôi dần, trôi dần, đậu trên tàn cây trước nhà, giữa ngoài cửa sổ rộng. Ánh sáng vàng vàng dịu chiếu thẳng qua cửa sổ, cùng hơi sương như khói đùa vào nhà, như trải thêm một tấm lụa vàng mỏng lên sàn nhà, làm căn phòng có hai kẻ tha hương chợt hừng lên. Trong tích tắc họ bỗng quên hết dĩ vãng, quên cả thực tại mới trước đó còn đầy trăn trở, lo âu, phiền muộn.
Trăng kìa! Không biết Quyên nói hay Kumar nói.
Cô ngẩng mặt lên.

Đôi mắt to đựng đầy trăng của Quyên trở nên lung linh khác thường. Quyên tự thấy xốn xang kì lạ, bởi trăng đẹp vô ngần đang lên hay điều gì đó không thể hiểu hổi của đêm nay. Không kìm nén lòng yêu, cô dướn lên tin cậy níu lấy Kumar, gắn đôi môi hôi hổi, tha thiết lên môi anh.
Họ có một đêm đầu tiên, ngập tràn hạnh phúc của những kẻ yêu nhau tới vô cùng trong sự chứng kiến của bầu trời, của muôn vàn tinh tú và của trăng thu vằng vặc soi…

Phố Cũ I

Tôi viết truyện ngắn này vào dịp Tết âm lịch năm ấy. Một cuộc hội ngộ bè bạn ở Phố cổ, với chi chít mảng sống của lứa bè bạn tôi, của con cái họ và, phố hôm nay còn ngổn ngang tâm sự. Vừa viết vừa khóc.

Viết xong, tôi đưa cho con gái tôi đọc. Con gái tôi khi đó hơn nhân vật chính ba bốn tuổi, tôi muốn cháu nhận xét tâm lí, ngôn ngữ của thế hệ mà tôi chỉ qua quan sát nhận ra.

Thế hệ hôm nay có nhiều điều khác chúng tôi, có nhiều điều đáng trách, nhưng không phải đa số xấu, chỉ mải hưởng thụ và rong chơi. Tiếp xúc nhiều với anh chị em sinh viên, trí thức trẻ tôi nhận ra vẫn có bao nhiêu tâm hồn đẹp tới nao lòng, nhất là họ dám vươn lên bằng ko chỉ ý trí mà còn là suy nghì đầy trí thức và trách nhiệm.

Tôi hy vọng và cũng trăn trở, Hà Nội của chúng ta ngày một đẹp hơn mau chóng tìm ra một giải pháp để bồi đắp văn hóa Hà Nội cho xứng với niềm tự hào của cả dân tộc.

Truyện ngắn của Nguyễn Văn Thọ

Phố cũ

Tôi tên là Hương. Năm qua, tôi tròn mười sáu tuổi.


Tôi là đứa con gái nhan sắc bình thường, học bình thường, hạnh kiểm bình thường. Tôi không có tài lẻ như bè bạn cùng lứa. Ví dụ như con Diệp, quê Thành Nam, đã xinh lại nói chuyện có duyên và viết hai truyện ngắn được đăng trên báo Hoa Học Trò, như thằng Trình mũi đỏ, người làng Cổ Nhuế, nhẩy Disco rất giỏi, lại có giọng hát mơn man hệt siêu sao Lam Trường, để khối đứa con gái ngắm nó đăm đắm! Tôi bình thường! Một cô gái bình thường ở phố Hàng Đào, nhưng không hề xúc cảm với giọng hát như thế. Tôi tự đánh giá như vậy, cách đây ba năm, từ khi 13 tuổi.

Tuổi mười ba, hồi ấy, khi người ta từ con trẻ vụt biến thành thiếu nữ, buộc phải soi gương nhiều hơn trong tuần và bắt đầu lơ mơ ý thức nghiêm túc hơn về mình. Theo tôi, đấy là một ngày đặc biệt! Một ngày như dấu mộc loang đỏ, mờ đóng lên làn da trắng muốt của người con gái. Thú thực, ban đầu tôi rất sợ hãi, bất ngờ về sự kiện này. Cả ngày chờ mẹ, lòng dạ bỏng rát. Hệt như khi ta xem phim, thấy người nung đỏ sắt, xèo xèo đóng vào bắp thịt con vật sắp cho xuất xưởng. Tôi chỉ trấn an được khi mẹ tôi trở về. Đúng hơn là khi nói rõ niềm kinh sợ ấy và cảm thấy đỡ sợ khi mẹ ôm tôi vào lòng, lúc da thịt bà còn sực mùi ngan và hành tỏi. Bà bảo: “Trời sinh ra như vậy! Con đừng sợ!” Nói rồi bà lại ôm chặt tôi hơn. Khi ấy, tôi không hiểu được, vì sao mắt mẹ tôi vừa chợt long lanh như hoan đón điều gì, lại vụt tắt và, bà khóc. Mãi cho tới sau này, khi tôi đã qua tuổi mười sáu, trải qua bao sự kiện, tôi mới dần nhận ra ý nghĩa của những cử chỉ ấy. Nó là niềm hoan lạc của mẹ thấy con mình đã lớn, là sự lo lắng của mẹ trước bước đi vào đời của con, của kiếp người, như mẹ tôi đã trải qua: “Đời làm đàn bà dẫu có hạnh phúc nhưng vất vả lắm con ạ!”



Tôi tin ở bà, như tất cả những đứa trẻ tin ở mẹ. Lại nữa là, theo thời gian, việc ấy đều đặn trong từng tháng. Với lại trong nhà, mẹ tôi là người có tri thức nhất, dù cha tôi hơn mẹ tôi những bốn tuổi. Ông từng bốn năm chiến đấu ngoài mặt trận. Sự từng trải ở chiến trường, trong rừng, những câu chuyện của ông giữa đạn bom, giờ đây theo mẹ tôi chẳng còn hữu dụng. Tính cả là ông đã hai lần bị thương, tôi vẫn đánh giá mẹ tôi cao hơn. Hơn nữa, học lực cha tôi chỉ hết 10, mẹ tôi học vấn đại học sư phạm. Đáng nói hơn nữa, sự sống của bà thực kiên nhẫn, quyết liệt, từ khi phải đứng mũi chịu sào, lo toan cho bốn miệng ăn. Điều ấy hiển nhiên, cha tôi cũng công nhận. Nhất là, khi đồng lương không đủ sống, buộc bỏ nghề dạy học, mẹ trở thành bà bán bún ngan khi bà nội tôi mất. “Không thể để mất nơi kinh doanh đã nhiều đời nay, nơi kiếm nồi cơm miếng thịt của cả nhà ta!” Bà nội trối trăng. Vâng, từ đó mẹ tôi kế tục nghề bà tôi. Còn cha, hưu trí một cục, trở thành người phụ giúp. Ông trông giữ xe máy của thực khách khi mẹ tôi chan, xóc bún, thái, xé, pha và nếm từ bốn giờ sớm tới tận tối mịt, đánh vật với các món thịt chặt và xé, tiết canh, xáo măng, hoàn thành xuất sắc vai trò bà bán bún ngan gia truyền nổi tiếng khắp phố cổ. Điều mẹ nói ra, là sự trấn an tôi, nhưng biểu lộ lo lắng của bà cũng là sự dự báo để tôi có thể, dù lơ mơ, nhận ra điều tất yếu phải tới. Điều ấy, dẫu là không rõ ràng, còn bao hàm một sự bí mật nào đó, để tôi suy nghĩ và chợt lóe lên một câu hỏi, rằng tại sao tôi không phải đàn ông để thoát khỏi sự đau khổ mà chỉ đàn bà gánh chịu? Và cũng từ đó, tôi tự cấm tiệt tôi tắm truồng cùng với thằng Tâm mới 12 tuổi cùng nhà. Nó ở tận cùng xóm, phòng cạnh cái hố xí thùng, người luôn ám mùi ẩm thấp rất khó tả. Nó rất tệ. Hình như cứ chờ lúc tôi đi tắm là chạy ra cầm cái xô vục nước hối hả, làm tôi không thể kết thúc nhanh công việc vệ sinh, giặt, tắm. Tệ hơn nữa, nó cứ nhảy tưng tưng, nhơn nhơn cạnh bể nước để con cu nó cũng tưng tưng bật theo, cố ý dùng cái lò xo ấy vẩy nước bừa bãi vào tôi. Sự phản ứng của tôi, bắt nguồn từ ý thức biết mình là đàn bà chứ không xuất phát từ một cảm giác nào trước hành vi của thằng oắt Tâm. Bởi vì hình hài của nó chẳng hề làm tôi suy nghĩ. Nó quá quen thuộc với tôi từ bao năm nay. Cũng như khi tất cả mọi người trong xóm nhìn thấy mẹ tôi cũng tắm ở đó. Cái quần đen ướt nhượt kéo lên ngang ngực, nước trắng xóa òa òa xối xuống, không che hết đôi cặp vú còn mẩy, ngần như ngó cần của bà. Điều ấy, cũng tự nhiên giống như cha tôi và nhiều người đàn ông cũng tắm ở đó. Sự tự nhiên của cả xóm, đôi khi, ông mặc quần đùi trắng tắm thì cũng giống như không mặc gì. Thậm chí họ, khi đã là đàn ông, được quyền tự nhiên thay quần giữa ánh thiên thanh. Họ chả thèm quay mặt đi. Tự nhiên kì, móc, dội nước qua cạp chun quần đùi được kéo rộng ra. Tự nhiên gãi xoàn xoạt tới mức tiếng gãi vọng lên cả cửa sổ tôi ngồi học.

Sự hồn nhiên sống của cả xóm như vậy làm tôi không thể trách giận thằng Tâm. Điều ấy cũng giống như bọn con Hoài, con Thư, con Linh trong ngõ cứ thơ thới cặp đùi nơi bể nước. Những cặp đùi cong, gầy hay mũm mĩm của chúng, vẫn là đùi vế của thiếu nữ. Sự hồn nhiên sống của cả xóm để cho chú Minh Kha, người có quầy sửa đồng hồ ở lối vào, nói: ‘‘Việc quái gì phải đi Đồ Sơn để ngắm vú, ngắm đùi!’’ Thú thực, ban đầu tôi không tin lời thằng Tâm, rằng chính chú Minh Kha nói câu ấy. Bởi vì, lúc vắng khách, có lần chú còn đọc cho tôi nghe nhiều câu thơ, mà chú khoe đấy là Dòng thi ca mạnh dạn cách tân. Tôi không tin, tâm hồn của một thi sỹ lại chứa chấp lời lẽ dung tục như vậy. Tâm hồn của người đã đẻ ra những câu như: ‘‘Hồn phố liêu xiêu/ Em đi/ vàng bến đợi…’’ Nhưng một lần chú lại đọc: chúng tôi đây một loài thi sỹ/ yêu bằng thơ, ấy bậy bằng mồm, thì tôi hiểu, thằng Tâm không nói ngoa. Và, những điều đại loại như thế, cùng năm tháng chung đụng, quen thuộc quá, để không ai bận tâm về các hình ảnh như trên. Tôi nhắc lại, nơi bể tắm, nó là chỗ duy nhất, nơi có luồng sáng duy nhất, trong ngôi nhà như cái ống dài ngoẵng của chúng tôi, chứa 13 căn hộ. Thứ ánh sáng thực sự là ánh sáng, khác hẳn các gian phòng, hốc hẻm, nơi hơn sáu chục người chui rúc, luôn có thứ ánh sáng nhập nhoạng, nhơm nhớp. Ngày chẳng ra ngày, đêm chẳng ra đêm ! Vâng, tôi chỉ đáng khiêm nhường và không có điều gì tự hào, dẫu là tôi đã ý thức mình là thiếu nữ.


Nhưng con người ta nhất quyết phải có điều gì để mà sỹ diện. Giống như hiệu đồng hồ trước ngõ, tuy quầy hàng chỉ nửa mét và hàng hóa, đồ lề, công xưởng trói gọn trong lồng kính cũng hãnh diện đề chữ  hiệu: Minh Kha chữa đồng hồ gia truyền. (Tôi xin mách, rằng chú vừa khoe hai loại cạc vi sít. Một, in dòng chữ Minh Kha chữa đồng hồ gia truyền. Hai, đề: thi sỹ tự do Minh kha. Sao cái thứ hai không đề Minh Kha thi sỹ gia truyền? Như thế hợp lí hơn, vì nghe nói, bố chú ngày xưa chuyên bốc mộ dưới Văn Điển, cũng làm thơ!) Bên kia đường có hiệu đồ Nữ trang gia truyền. Cũng như hôm nào đó, cha tôi lẳng lặng lấy sơn đen bôi lên tường ngõ hẹp bên kia đường, nơi mẹ tôi bán bún ngan dòng chữ: Bún ngan gia truyền!

Phố cổ gia truyền, hàng quán gia truyền! Cả nước bảng hiệu gia truyền lây lan như bệnh cúm không có nước tỏi nào chẩn trị. Niềm tự hào tưởng như vĩnh cửu, bây giờ có dịp mọc tóe lên hết nấm tháng ba.

Chính vì thế, tôi nhất quyết tìm ra sự tự hào ở bên ngoài bản thân tôi ra. Đó là lòng kiêu hãnh của đứa con Hà Nội, về nơi tôi sinh ra, lớn lên. Mới tuần vừa qua đây, tôi đã thể hiện điều ấy trong trại hè lần thứ nhất của học sinh trường tôi tại Huế. Một thằng con trai kém tôi những hai tuổi, từ miền Nam ra - tuy nó để đầu ngôi giữa và nhuộm một nhúm tóc vàng, nhưng với lũ con gái lớp 11A chúng tôi thì nó còn thò lò mũi xanh lắm - đã phải trợn mắt khi nghe tôi kể về khu phố và ngôi nhà tôi ở. Tất nhiên tôi không thể kể với nó tất cả. Tôi nói với nó, rằng Hà Nội có ba sáu phố phường là điều ai cũng biết. Tôi bảo nó, rằng chị ở sống trong Phố Cổ, nhà chị trong Phố Cổ, bốn năm đời nhà chị ở Phố Cổ. “Vậy chị là người Hà Nội gốc?” Nó hỏi. ừ, chị là người Hà Nội gốc! Tôi vênh mặt lên, thổi phù lọn tóc vương trên trán. Thực ra, khi trả lời câu hỏi ấy, tôi có nghĩ tới ngôi nhà hình ống của chúng tôi. Nhưng không nên nói kỹ về ngôi nhà, vì thằng ngôi giữa ấy chưa từng sống, không thể hình dung nổi! Vả lại, tốt đẹp phô phang, xấu xa đậy điệm, chả nhẽ lại kể cả về cái chuồng xí công cộng cạnh nhà thằng oắt con Tâm. Cái chuồng xí luôn rỉ từ vách tường ra thứ nước đen tanh lờm lợm và chàn chạt đám bọ lổm nhổm trên nền xi măng vào ngày quá nóng hay mưa nhiều! Tôi kể cho nó nghe về khu phố nườm nượp người đi. Dãy phố hàng hóa như nêm cối! Đường phố đầy những biển hiệu, quảng cáo lắm mầu, lắm tấm kính trong như pha lê, mà bất cứ người nhà quê nào lên đây cũng phải đặt chân tới, dù họ chẳng mua bán gì ở đó. Nó hiện diện trong tâm tưởng của người Hà Nội chúng tôi, bên những địa danh quen thuộc như Bờ Hồ, cầu Thê Húc, Ô Quan Chưởng, cầu Long Biên, chợ Đồng Xuân hay đại loại cái gì đó thuộc về lịch sử cổ kính của Hà Nội. Thú thực, khi đó tôi chợt nhớ tới gian phòng của mình. Tôi nhớ tới cái ống nước cụt ở ngay trên nóc nhà tôi. Cái ống nước ấy không hiểu sao lại sát trên nóc nhà và bị cụt. Theo như cha tôi dự đoán, ngôi nhà này đã được sửa chữa rất nhiều lần và bị chia cắt thành nhiều nhà nhỏ qua nhiều thay đổi của lịch sử, thời gian. Đoạn ống nước ấy có thể dẫn tới buồng tắm nào đó của quá khứ chăng? Còn hiện tại, tôi đã nhìn thấy rất nhiều lứa chuột nhô đầu ra ở ống cụt. Chúng ban đầu thì rụt rè. Sau thấy tôi không có gì đe dọa, lại bỏ cơm nguội cho chúng ăn ngay trên sàn gỗ, chúng lập tức kéo ra một đàn. Những con chuột mượt lông và những con chuột lù xù sơ xác. Có một lần, còn rơi ra ba bốn con chuột còn đỏ hỏn. Tôi đoán, đó là nơi cư trú một tập đoàn chuột, một dòng họ chuột. Ngay đêm ấy, tôi nằm mơ tới được sống trong nhà mình, hít thở thứ không khí mười sáu năm qua, để lúc tỉnh dậy, chợt muốn quay về lập tức với mẹ.



Trong giấc mơ, tôi đã mơ thấy cái phòng duy nhất của gia đình tôi. Cái phòng xưa lát gỗ đen nhánh, rộng gần chín mét vuông. Thời mở cửa, người ta thi nhau lên tầng và sửa nhà, cha tôi đã thuê thợ tháo gỗ ra bán và lát trên sườn gỗ,vữa những viên đá hoa mát lạnh. Tiền bán gỗ, lát đá thừa ra, mua đủ nửa cái tủ lạnh cũ. Mẹ tôi bù tiền. Tủ đem về không biết kê vào đâu. Cha tôi dùng cái ròng rọc treo tủ lạnh lên cao, sát nóc nhà và mỗi khi cần lấy tiết đánh tiết canh, các thứ đồ ướp, gia giảm của món “bún ngan gia truyền”, lại phải hạ tủ xuống bằng ròng rọc. Khi đó, nhà tôi vang lên tiếng rin rít của những bánh xe khô dầu. Tôi nhận ra, đúng ba giờ chiều, khu nhà tôi yên tĩnh tới có thể nghe thấy tiếng bước chân rón rén của bà già mù cũng tên Hương, sống ở tầng nóc nhà tôi. Mỗi khi muốn lên đấy, tôi phải vòng sang ngõ hẹp bên cạnh, chui qua cái cửa rất thấp và người ta đồn rằng, đó là cái lỗ mà tự vệ thủ đô đã đục thông các nhà để gìn giữ từng mét đất Hà Nội. Rồi ngày nào cũng vậy, đúng ba giờ gì đó, tôi nghe tiếng nước chẩy lóc róc. Có một lần, tôi đã chạy thốc tháo sang nhà bà già mù ấy để nhận ra, tiếng róc róc nhát gừng kia, phát lên khi bà trong tư thế lưng cong, chân dạng ra, hơi cúi xuống, đứng ở chỗ hiên chìa ra chừng hai gang. Cạnh đó, chỗ bà khom khom lưng, chú Long đặt hai cái bếp dầu. Mặc dầu không nhìn rõ tất cả, tôi đoán bà đang làm việc gì và cảm thấy xấu hổ vô cùng. Tôi đã khám phá ra tiếng nước bí mật kia! Sau đó, tôi vẫn không hề thiếu tôn trọng bà. Trong ngôi nhà này, ngoài mẹ tôi ra, bà Hương mù lòa ấy hiểu và yêu thương tôi nhất. Bằng chứng là tôi còn tấm ảnh bà bế tôi hồi bé xíu, và tới tận hôm nay, vẫn ôm ấp, vuốt ve tôi mà kể về khu phố khi còn cha mẹ bà. Một khu phố hiền lành, yên tĩnh không chật hẹp như hôm nay và đầy những món ăn tuy không biển gia truyền nhưng nhiều cám dỗ của người Tầu. Bà mù nhưng khéo. Bà lấy bột nếp rây nhỏ, hòa nước, tráng bánh rồi phơi trên cái nóc nhà sát bên cửa sổ. Lúc trời se se, lành lạnh, bà sai tôi quạt hồng than trong cái hộp sắt cũ có in hình bà đầm Pháp. Bà gọi nó là bánh Mị Châu. Bánh Mị Châu dẻo, lại trong trắng. Khi có hơi than nóng, chợt phồng lớn bất ngờ và có sắc hồng phớt như khuôn mặt thiếu nữ đang xuân. Nó thơm tinh khiết, để lại vị ngọt hậu rất lâu trong họng. Nhất là khi nhấm nó, chiêu một ngụm nước vối ướp hoa cúc vàng, hãm sẵn trong chiếc ấm tích cổ của bà. Tôi ngồi ăn bánh Mị Châu để bà lần sờ bàn tay trên da mặt tôi: “Cháu bà xinh ra rồi đấy!” Xinh ra rồi đấy! Nghe lời khen, tôi bỗng hít vào thật mạnh và thở ra. Tôi cảm thấy đôi vú nhu nhú quả cau của tôi cũng thở hít và ngưa ngứa đụng vào làn áo mỏng. Sau đấy, bà lần tới bên cửa sổ, với cái thanh tre già nâu mầu thời gian, kê lên đùi làm phách và hát. Tôi không thích lắm điệu hát ấy. Lũ con gái chúng tôi thuộc lòng bài hát If you had my love (1) nhanh hơn tất cả các bài hát của bà Hương. Nhưng tôi vẫn nhận ra bà Hương có giọng hay và rất rõ lời. Đôi khi bà Hương không hát. Bà lấy cái máy nhạc cũ bỏ băng cassette vào rồi lim dim đôi mắt lòa để thưởng thức “giọng ca của cụ Quách Thị Hồ, người ca nữ còn sót lại, độc nhất vô nhị!” ấy là theo lời bà Hương. Tôi không hiểu Thời Quân Thượng Thiếu (2) có ý nghĩa thế nào. Cũng không hề biết thưởng thức, bà Hồ hát hay tới đâu cho bà Hương vẫn ngẹn ngào mỗi lần nghe lại. Một bữa, trong tiếng mưa giọt giọt rơi trên mái tôn, trong khí lạnh chầm chậm như sương khói lùa qua khe cửa chiều đông, bà Hương bật băng nhạc ấy lên và hỏi: “Cháu có nghe thấy gì ở trên cao không?” Không! Tôi nói. Cháu không nghe thấy ư? Đâu phải tiếng hát bình thường. Chỉ có bốn nhạc khí và ba người thôi mà là cả dàn thanh âm giao nhau của trời đất đấy! Tôi lắng nghe lời có đoạn: Đàn ai một tiếng Dương Tranh (3), chỉ thấy nao nao. Nhưng bà Hương cứ nhất quyết bảo, rằng đó là tiếng thần nữ từ cao thăm thẳm dội tới. Có thật không, ở gian nhà thoang thoảng hơi rêu ẩm mốc của bà? Tôi không hiểu thứ nhạc cổ ấy lắm. Tôi tìm đọc sách báo thấy người ta viết, đó là thứ nhạc nhã xa lông, quý tộc! Quý tộc nào? Bà Hương là người dân dã. Mà nếu có thứ nghệ thuật cho mọi đẳng cấp thì tất là siêu cao rồi. Lại nữa, tôi thêm tin điều bà Hương tin, khi nhìn vào đôi mắt như hai lỗ dế của bà Hương. Hai lỗ dế khô khốc, giờ đây vắt ứa ra hai giọt trong vắt. Và có phải chăng vì thế, sau lần ấy, khi nghe lại vài lần bài hát bà Hương yêu quý, tôi cảm nhận có điều gì đó, dẫu là sự cảm nhận còn mơ hồ, lãng đãng, trong tiếng đàn nhẩn nháy, đôi khi dấm dẳng hòa với tiếng dồn của sênh, của phách ròn rã, là tiếng cao hơn, nhẹ hơn, đầy đặn hơn, tiếng hát rất tròn trịa rõ ràng của bà ca kĩ đệ nhất. Tôi cũng nhắm mắt. Lim dim. Mãi rồi cũng tưởng ra non nớt trên cao lắm có thanh âm rộn ràng nào đó làm tôi lãng đãng bay lên, bay lên cao vút…Từ đó, tôi cho là, những làn điệu cổ xưa kia không hề chứa đựng nỗi sầu thảm. Nó chứa chất điều gì, cất giấu, mang linh hồn nào đó, xa lắc trên cao của riêng bà, thế hệ bà. Những cảm xúc ấy không chỉ từ lời ca, làn điệu của đàn, phách và xênh, nó dường như cộng hưởng, thăng hoa bởi tiếng rơi chỉ tôi nghe thấy. Khi những giọt nhựa trong suốt tự hai lỗ dế kia vắt ra, rớt nhanh, thấm vào sàn gỗ. Có lẽ hai nhăm năm vừa qua, sàn gỗ nhà bà đen hơn bởi những giọt nhựa ấy chăng? Tôi cũng không thể cắt nghĩa nổi, rằng vì sao tôi có tất cả cảm giác như vậy. Khi ấy, miếng bánh Mị Châu ướt thêm nước miếng và nước vối hoa cúc ngọt hơn chăng?



Tôi còn nhớ, có lần bà nói: “Tên Hương là khổ lắm. Bà mong cháu lớn lên không khổ”. Bà khổ thì rõ ràng rồi, vì bà mù lòa. Mẹ tôi bảo, hai nhăm nay bà Hương già vẫn như thế. Ông Hương mất từ lâu rồi. Bà ở vậy với chú Long và khi chú lấy vợ thì cả hai vợ chồng vẫn ngủ chung với bà trên cái sàn gỗ rộng khoảng tám mét vuông. Vợ chồng chú Long không có con. Có lần tôi hỏi: “Cô Tuyết có thích trẻ con không?” Cô ấy cười bí hiểm. Bà Hương nghe rõ tôi hỏi mà chẳng bảo gì. Lát sau, ghé vào tai tôi thì thầm: “Bà mong có cháu bế lắm. Nó cũng muốn có con nhưng sợ bà nằm chật! Khốn nạn! Chật một tẹo có sao đâu! Rộng lòng còn hơn rộng nhà, rộng cửa!” Như vậy mà tôi vẫn thích leo lên nhà đó vào những đêm đông sướt mướt. Mưa lanh canh gõ lên tấm tôn chìa bên cửa sổ trông xuống bể tắm. Tôi lên. Gõ vào tấm ván trên đầu rồi gọi: vừng ơi mở cửa ra. Số là bà còn ba người con gái nữa. Cô Điệp, cô Hà và cô Huyền út ít. Gian phòng ấy không đủ chỗ ngủ cho năm mạng người! Cho sáu mạng người từ khi chú Long lấy vợ. Chiều cao của gian phòng không đủ làm cái gác xép. Ông Hương, ngày còn sống, đã đục xẻ hai bên tường, làm hai rãnh để đỡ những tấm ván tạo một gác lửng cơ động chỉ hình thành vào đêm. Mỗi khi người cuối cùng về muộn, muốn chui lên đấy, phải gõ vào một tấm ván và người bên trên tháo nó ra, rồi lại đóng nó lại, mới đủ chỗ cho người thứ ba. Tôi chen giữa các cô. ép thân như nèn cá. Để đôi vú còn săn chắc của họ cọ vào lưng. Nghe bà Hương rì rầm nói vọng lên trong bóng tối. Rằng chúng mày cứ béo trương xác ra để chật chội nóng nực thế này! Rằng có chó nào nó lấy cho ế xưng ế xỉa! Tôi biết đấy là khi gian nhà bỗng nóng lên cả trong mùa đông và tôi vội tháo tấm ván chui xuống nằm bên bà, mong bà trở lại hiền hòa như ban ngày và lần mò trong đêm, dúi vào tay tôi miếng kẹo gừng cay cay ngòn ngọt rồi bà nói: “Tao đưa con Hương một thằng Trọng Thủy để mày ngậm kì tan, rồi xéo ngay khỏi đây cho rộng chỗ!” Những khi ấy, tôi ôm riết bộ xương còm cõi của bà. Tôi biết, bà vì duyên cớ khác mà mắng yêu tôi. Bà hờn với vợ chồng chú Long. Trong đêm, cô Tuyết, vợ chú ngủ quá say, đã lăn sang đè đứt cả giây màn của bà. Muỗi vo ve bay vào cả đàn, đốt đỏ cổ chân bà. Tất nhiên là tôi không khóc khi vuốt ve chỗ muỗi đốt vào sớm hôm sau, lúc bà bôi dấm lên đám nốt đo đỏ li ti. Tôi cũng không giận cô ấy. Thậm chí cảm thấy thương khi bà Hương giận cô. Thật vậy, người ta thực khó chịu cứ phải chen chúc giữa những chiếc màn sàn sạt!

Tháng mười một. Mẹ tôi ốm. Tội quá, mẹ tôi ở nhà không ra chợ, vẫn tham công tiếc việc, ngồi mạng lại đôi tất nâu cho cha tôi. Mưa dâm dứt không ngừng rơi và mặt trời lờ mờ ong ong giấu mình trong những đám mây xám nặng nề trôi ngang thành phố. Gánh bún ngan của mẹ tôi không dám ngừng hoạt động vì sợ mất khách. Cha tôi đành mượn cô Công từ làng Lủ ra trợ sức. Tất nhiên, mẹ tôi vẫn phải gượng dậy, tra tra, nếm nếm nỗi xáo. Tất nhiên, không chỉ là nước dùng hay thịt mềm hay cứng. Còn cả kỹ nghệ chan rưới, làm nóng, xóc bún thế nào, ngâm ớt, ướp tỏi, đánh gừng pha chế nước chấm ngay trên thực địa, tùy theo khẩu vị quen thuộc của từng mặt khách ra sao. Điều ấy chỉ có mẹ tôi là thuộc lòng. Tất nhiên, vì thế mà mới có hai ngày đã khối người bỏ đi hàng khác. Tôi phụ giúp cha tôi rửa bát và chỉ chỗ cho khách để xe máy. Việc đang tồi đi như thế thì may sao mẹ tôi gượng dậy, nhưng không bán muộn như trước.


Thứ by. Tám giờ tối. Tôi tới nhà con Vân Hàng Trống mượn vở ghi bài tập vật lý. Tôi rất thích ngôi nhà của Vân. Không phải nó rộng rãi, lại vừa lắp hai tấm kính sáng choang thay cánh cửa gỗ cũ kỹ. Sự thích thú của tôi từ hồi còn được bên cha nó. Nhìn người đàn ông có bộ râu đen pha bạc dài tới ngang ngực, bôi bôi, phết phết trong xưởng nhỏ sau nhà, in trên những mảnh giấy mịn, mỏng tang, nhiều bức tranh ngộ nghĩnh. Nơi đấy, từ khi cha nó mất, vắng lặng như nhà mồ. Hai đứa cười rúc rích và bật nhạc nghe choang choang cũng chả ảnh hưởng tới ai. Bảo yên tĩnh như nhà mồ cũng không quá lắm, vì chẳng ai ngó tới đó, chúng tôi ngỗi học giữa những đống khuôn tranh không nói của cha nó để lại. Những bộ khuôn từ khi chủ mất đi không còn sơn mực, khô đi và dần phủ lớp bụi dầy. Nhiều tấm dựng sát tường. Mỗi khi mất điện, âm bản khắc gỗ hắt lên mầu và khối rất kỳ ảo, rập rờn trong ánh nến. Những người và thú như ở cõi nào chập chờn hiện về!

Hôm nay nhà Vân không vui. Ông anh nó đòi bán bộ cổ tập khắc gỗ ấy để mua một con A Còng(4) . Nhưng mẹ Vân dứt khoát không nghe. “Bây giờ còn có kẻ cần và người ta ở tận Pháp về xin chết mà mẹ không bán đi thì mất cơ hội đấy!” “Tao để đấy chả thối được! Mày không muốn làm nghề cha mày thì cứ mặc xác nó đấy, cho cha mày yên lành dưới đó!” “Mẹ tưởng sau này, con cháu nó quay lại cái nghề cổ lỗ sĩ ấy à?” Yên lặng một lát, lại nghe: “Rồi chính phủ sẽ có ngày phải mang lọng tới rước những bộ ván này!” “Hực, hực!” Có tiếng cười gằn. “Rước vào mắt! Người ta bỏ cả vài tỉ ra trùng tu ngõ Cấm Chỉ và biến thành Phố Cổ ẩm thực và khối kẻ vì thế mà có tiền. Hỏi ai đầu tư vài trăm triệu mua bộ ván mục này?” “Kệ đấy! Tao van mày! Mày cho tao và những tấm gỗ được yên!” “Mẹ bảo thủ lắm! Con không làm! Con con sẽ không làm! Cháu con sẽ không làm cái nghề chẳng bao giờ đủ ăn ấy của cha!”

Con Vân tiễn tôi ra ngõ rơm rơm nước mắt. Nó bảo, sao cái đống ván khắc ấy không biến mất đi sau một đêm? Năm nào cũng vài thằng chỉ trỏ mang vài lão tây tới hỏi đống ván đen đúa xam xám ấy. Năm nào mẹ tao và anh ấy cũng cãi vã như vậy.


Buổi tối. Phố phường quanh khu tôi vẫn nhộn nhịp như ban ngày tới khuya. Tôi buồn.


Tôi vòng qua phố Lương Văn Can, vòng qua hai ba cái phố nhỏ mà chẳng biết đi đâu. Thực chất, những phố phường của chúng tôi chẳng còn làng nghề, trừ phố Lò Rèn và Hàng Bạc. Thời gian đã, đang làm thay đổi bao điều theo nhịp sống mới. Đang suy nghĩ miên man tôi chợt thấy bóng cha tôi vội vã rẽ vào một ngách nhỏ. Tôi gọi giật giọng nhưng có thể tiếng tôi nhỏ nên ông không nghe thấy. Không hiểu sao khi ấy tôi bước theo ông. Ngõ quành quéo lắm lối. Tại đây, không hề có ai quen biết của gia đình tôi. Vậy ông đi đâu? Tới cái ngõ cụt, những nóc nhà liên tiếp vẩy cá, mờ mờ trong sương khói bảng lảng. Tôi hồi hộp tiến vào sau cánh cửa, nơi ông vừa biến vào. Ai đã nói với tôi, đây có ba bốn phòng trọ? Tôi vừa định quay về thì từ cánh cửa sổ bên trái vọng ra tiếng nói quen thuộc của cha tôi. Tôi dừng lại. Cửa rất kín. Bên trái, trên cao có lỗ thông khí. Tôi tìm thấy chiếc ghế thấp bên hiên, kê dưới cái lỗ, bước lên kiễng chân nhìn. Tôi lờ mờ thấy chỉ hai nửa thân người trần truồng nhấp nhổm. Tôi thụp xuống tim đập nhanh. Sự tò mò lại thôi thúc tôi kiễng lên một lần nữa. Lần này, họ đã xoay đi hướng khác. Góc nhìn hẹp, chỉ thấy bốn bàn chân ngọ nguậy liên tục dưới ánh sáng cây đèn ngủ hắt trúng vào đó. Tôi cố mở to mắt. Trời ơi, đấy là đôi chân mang đôi tất có vết mạng khác mầu của cha tôi. Tôi cố kiễng lên. Không thể nhầm lẫn được! Chính xác đôi tất tự tay mẹ tôi đã mạng, bằng chỉ khác mầu, hôm mẹ nằm ốm ở nhà. Tôi bỏ chạy. Tôi khóc nức nở suốt dọc đường về, tận khi leo tới gác, ngã vào lòng mẹ.


Sự việc thực khủng khiếp! Những hình tượng tử tế, vụng về, chân chất nhưng thân thuộc tới đẹp đẽ của cha tôi hoàn toàn đổ sụp. Tôi nức nở, đứt đoạn kể cho mẹ tôi toàn bộ những điều trông thấy. Thú thực, khi đó tôi không chỉ ghê tởm mà còn căm thù cha tôi. Lòng căm thù người này có thể xuất phát từ tình yêu đối với kẻ khác và đó là một điều giản đơn. Tôi được mẹ lau sạch mặt sau khi để tôi khóc no nê và khi tôi ngước lên, lại thấy khuôn mặt bà vô cảm, hóa đá! Câu chuyện có thể gây lên cú sốc rất lớn với người vợ khác và họ thường quác ầm lên như ngỗng, giống cô Yến đánh ghen năm ngoái trong xóm tôi.


Bây giờ, tôi đã có thể hiểu được những lý do tạo nên khuôn mặt đá ấy. “Mẹ thương con gái lắm!” Ngoài ra, bà không có biểu hiện, một tẹo nào tỏ ra tự thương lấy bà. Giá như bà khóc! Đôi mắt đẹp của mẹ tôi chẳng hề một giọt lệ. Nó xa xôi, mơ hồ, mênh mông, khó hiểu. Dường như câu chuyện của tôi không mảy may làm bà cảm thấy đường đột. Có nghĩa là bà đã biết được tất cả chăng? Tôi ngạc nhiên hơn nữa khi sau đó, bà lẩm nhẩm, rằng cha tôi còn rất yêu mẹ. Rằng, mẹ còn rất yêu… Tại sao như vậy? Tôi gặng. Mẹ tôi cứ xoa mái tóc của tôi suốt mà không hề nói rõ thêm một chút nào. Tôi đau đớn ngạc nhiên lau nước mắt ngước lên nhìn bà. Suýt nữa tôi chuyển sang căm thù cả trạng thái ấy của mẹ tôi nữa, nếu tôi không nghe và đếm từng tiếng chân quen thuộc của cha tôi, 13 bước, lên nhà. Ông vô tư oang oang cười, nói, tớn tẩy như con chó nhà con Xim đầu ngách, nhẩy lên choi choi, sủa vang, sau khi thỏa mãn no nê những miếng xương ngan mẹ tôi thẩy cho. Chỉ khi thấy hai mẹ con yên lặng, nhìn ông lạ lẫm, ông mới tẽn tò nằm xẹp bên góc nhà để nhường chỗ mọi khi của hai chúng tôi.


Đêm ấy, khuya lắm, tôi chợt thức dậy khi nghe tiếng khóc. Sờ sang, thấy bên tôi trống trơn và nhận ra ảnh hình lờ mờ của mẹ tôi trong vòng tay của cha tôi sát mép tường bên kia.

“Để con biết chuyện này, anh có lỗi!” Tiếng khóc bị lèn giờ rức lên. Tôi hé mắt. Hình như cha tôi xiết chặt mẹ tôi hơn. ‘‘Anh càng thương em!’’Giọng cha tôi nghèn nghẹt. Yên lặng. Tôi cảm giác lơ mơ thân xác mẹ tôi rung lên trong tiếng nấc, trong vòng tay nhập nhoạng, những hình khối chuyển động rất chậm, cuồn cuộn của cha tôi. ‘‘Hãy tha thứ cho anh!’’ Tiếng cha tôi trầm nhẹ, thì thào. “Yên nào, kẻo con lại thức!” Khi ấy, rõ ràng mẹ quay mặt sang tôi. Tôi nhận ra, trong màn đen, nổi lên hai con mắt mở to, trắng, đen, thăm thẳm, loang loáng, có lẽ còn ngập tràn nước mắt, nhờ ánh sáng từ vòm trời đầy sao phản chiếu từ khe cửa. Tôi muốn khóc thành tiếng mà không thể được. Cổ họng tôi chèn cứng một cục đá và nước mắt tôi cứ chan hòa ướt đầm cả gối. Lát sau có tiếng rung nhẹ của sàn. Mẹ tôi bước qua tôi và nằm đúng ở vị trí như hồi tối. Bà vòng tay qua ôm người tôi. Tôi rất sợ bà sờ lên mặt tôi hay đụng vào gối đã ướt nhèm. Tôi trả vờ nói mơ và xoay mình tránh vòng tay của bà.


Đêm. Lặng. Có tiếng rinh rích của bầy chuột trên đoạn ống nước cụt. Bây giờ bật đèn, nhìn lên sẽ thấy cả đàn, cả họ chúng nó kéo ra. Chuột có hôn hít loạn sị như con người không?

Sớm hôm sau. Vẫn như một sớm bình thường. Mẹ tôi dậy từ bốn giờ và gánh bún ngan sang bên ngõ khi bẩy giờ. Cha tôi thức lúc sáu giờ thì phải. Một ngày bình thường của chúng tôi lại bắt đầu. Tôi đi học mà chẳng nghe được điều gì. Chiều về, tôi một mình lần mò trong phòng nhỏ. Tôi thấy nhói thương cho bọn chuột khi nhận ra có những con chuột thân hình vừa khít với cái ống nước nhỏ xíu. Tôi xuống cầu thang. Lần đầu tiên, tôi có cảm giác ghê sợ cái nhớp nháp của tay vịn, đã mười sáu năm nay chưa bao giờ, chưa khi nào có cảm giác ấy. Tôi nhìn, thấy ghê tởm thứ ánh sáng nhập nhòa, ngày không ra ngày, đêm chẳng ra đêm. Đi qua bể tắm, thằng nhóc Tâm cười choe choét như mọi lần và bắt đầu ra dáng chờ tôi. Tôi soi nó không chớp mắt. Tôi quay mặt đi, dù khi ấy nó còn mặc nguyên cả áo quần. “Tao ghê tởm cả mày và tao!” Tôi thốt lên và đi ra phố.


Tôi ra Bờ Hồ. Có thể tôi phải học thực giỏi hay đại loại kiếm một công việc nào đó nhiều tiền để rời xa ngôi nhà này? Phải rời xa nó thôi vì tôi không thể gia truyền bán bún ngan như mẹ tôi và cam nhẫn sống với một tình yêu khủng khiếp như vậy. Tôi vào thang máy lên tháp Cá Mập, gọi một li cà fê đắng ngắt. Có thể một người con gái Hà Nội bắt đầu sa đọa từ li nước đắng này hay không? Tôi muốn đập phá. Tôi muốn gào thét. Tôi muốn thứ nhạc thật loạn, điệu Ráp hay tiếng vỡ, nghiến, va đập nào đó có thể nghiền vụn, xé tan tất cả các mạch máu của tôi. Tôi khóc. Trời sắp có giông, từ tầng cao có tia sét chớp nhằng, rọi sáng xanh cả trời và sấm. Gió mát nổi lên. Tự nhiên tôi nhớ tới bà Hương. Không! Tôi không thể sa đọa, phản bội thành phố này. Hình như bắt đầu từ đêm qua tôi nhìn rõ hơn về nó. Nhìn rõ hơn từ chính những điều quen thuộc, thân yêu nhất trong chính ngôi nhà của tôi. Tôi khóc câm lặng. Mây lại dần quang đi. Hồ Gươm hiện ra phẳng như một tấm gương khổng lồ dưới kia. Gió mươn man trên làn da con gái, già 16 tuổi của tôi. Sương tơ giăng, bắt đầu lan ra, trùm lên dáng liêu xiêu của trăm ngàn ngôi nhà. Từ trên cao, nhìn xuyên màn đêm mà tưởng thấy: con người lúc nhúc chuyển dịch trong nó bé như những con bọ. Nói thực, khi ấy tôi đã không vì hèn nhát mà khóc.

Cuối tháng sáu, bà Hương mất đột ngột. Chú Long bảo, hình như bà biết trước. “Không biết trước sao mẹ tôi sai con Huyền đun một nồi nước thơm . Tắm xong bà lên giường nằm rồi đi”. Tôi đã nghe lỏm khi chú kể vậy với mẹ tôi. Tôi nhìn vào chiếc quan tài bằng gỗ sơn đỏ chót, có những con rồng vàng nhe răng ngoặm lấy quả cầu đỏ. Nếu bà Hương sống lại? Tôi tưởng tượng thấy bà bước ra khỏi quan tài, sờ sẫm đi về góc nhà. Thấy bà hát, thấy móm mém cười và trao cho tôi chiếc bánh Mị Nương, cái kẹo đắng Trọng Thủy. Khi đấy, lũ con gái của bà, cô Điệp quá thì, Cô Hà già lứa, kéo về đâu một đống những tay đàn nhị, kèn, sáo và họ ngồi chật ngoài rạp bắt đầu chơi thứ nhạc bắt chước tiếng khóc leo lẻo của cô Huyền út ít, thông minh và ngoan nhất nhà đang ngồi bên quan tài mẹ. Tiếng nhạc ma bay trượt lên quan tài, loang trên khắp mặt phố, cố cắt đứt những dòng suy nghĩ của tôi. “Sống dầu đèn chết kèn trống cháu ạ!” Chú Long nói với tôi khi thấy tôi nhăn mặt. Tôi nhắm mắt lại, cố gắng hất văng tiếng khóc trả vờ của kèn sáo kia…


Sớm đưa bà Hương, người ta không thể khênh quan tài xuống theo cái ngõ quá hẹp, lắm vòng gấp. Quan tài được đưa qua cửa sổ, qua nóc nhà bên và từ đó hạ xuống mặt đất bằng ròng rọc. Tôi đứng dưới đường hồi hộp nhìn lên. Mặt trời sáng chói đúng vào hướng quan tài thả xuống. Không nhìn thấy giây ròng rọc buông quan tài vì ngược sáng. Chỉ thấy lơ lửng chiếc quan tài đỏ chói, vẽ con rồng ngậm cầu đỏ, chao xuống mặt đất như bay chậm. Quan tài bà hồng rực lên trong nắng, chầm chậm trôi xuống mặt phố, hệt như con vật nào mầu đỏ đang tiếp đất. Lúc hạ, hàng chục người dân phố vươn bao nhiêu cánh tay gầy guộc, gân guốc đỡ lấy con vật đỏ như vụt mọc ra mấy chục cái chân. Tôi theo bà tới tận Bờ Hồ. Tiễn biệt, trời trở nên quang trắng long lanh, phắt chuyển gió, xanh thẳm như bầu trời của mùa thu. Tôi nhớ bà có lần nói: “Bà tuổi rồng. Cháu tuổi rồng. Những con rồng Hương! Bà mong con rồng Hương nhỏ hạnh phúc!” Người ta có linh hồn không? Nếu có linh hồn thì linh hồn bà có phải dáng rồng mà bay đi không? Con rồng mang linh hồn bà liệu không mù lòa như khi bà còn sống để được nhìn thành phố và phố cổ, nhìn lại một lần ngôi nhà của chúng tôi không? Còn thành phố, còn khu phố, còn ngôi nhà hình ống của chúng tôi, chúng có linh hồn không? Và nếu có, chúng mang hình hài nào trong mười hai con vật?


Tôi trở về nhà. Người ta cũng chỉ tranh thủ đưa tang bà để tiếp tục nhao ra phố, kịp đua tranh kiếm sống trên các đường phố luôn ù ù điên loạn như trong một cối xay gió khổng lồ. Chẳng còn ai ở nhà. Tôi lắng nghe. Không còn gì nữa! Tôi rờ tay lên mặt sàn đá nhẵn, nơi bố và mẹ tôi nằm. Tôi thấy mồ hôi nhà lan lạnh trên những ngón tay của tôi. Tôi chợt nhớ tới phiên bản bức tranh Phố Phái, định gửi cho cái thằng tóc chẻ ngôi giữa. Tôi lấy bút xóa đi dòng chữ hôm trước tôi ghi: Phố Cổ. Tôi yên lặng nửa giờ để cảm nhận lại toàn bộ mọi sự kiện. Tính tháng, tôi đã hơn mười sáu tuổi. Tôi nắn nót viết hai chữ rất đẹp Phố Cũ thay lên dòng chữ Phố Cổ. Chiều. Tôi ra bưu điện gửi bức tranh cho thằng bạn. Lòng nhẹ như vừa nhẩy qua một con suối rộng.


Tháng tám năm sau, mẹ tôi vui vẻ báo cho cả nhà, sẽ dồn tiền để mua một căn hộ nơi chung cư mới xây ở ngoại thành.


Tháng tám. Đêm ấy mẹ tôi thì thầm nói với cha tôi:

-Vợ chú Long vô sinh rồi. Lớn tuổi quá, chai dạ con, bây giờ muốn sinh một mụn con mà chẳng được!

Hà Nội- Xuân 2003

NVT

Chú thích :

1-Tên một bài hát của nữ ca sỹ đang được giới trẻ ưa chuộng Jennifer Lopez.

2-Dương Tranh - Đàn Đáy- Đàn dương. Đàn Nguyệt là đàn âm

3-Lời trong một điệu hát ca trù nổi tiếng : Hồng Hồng Tuyết Tuyết.

4-Loại xe đời mới nhất rất đắt đang là moden tại Việt nam

Trong bão tuyết

Cuộc di dời một bộ phận người lao động sang các nước Châu âu, bắt đầu vào những thập kỉ tám mươi, thực sự đã cứu thoát nhiều gia đình tại Việt Nam khỏi cảnh đói nghèo đau khổ thời bao cấp vì vật chất. Nhưng cuộc di dời ấy, trong hoàn cảnh cụ thể,nhất là hạn chế về các hiệp định lao động ki kết giữa các nhà nước hợp tác lao động, đã gây ra bao bi kịch của nhiều gia đình Việt Nam. Sự gá tạm, tan vỡ hoặc hợp nhất những gia đình mới,mối tình mới, ở xứ người, trong tha phương cầu thực, lại nhiều khi dẫn tới những bi kịch mà người ngoài cuộc khó có thể chia xẻ và chấp nhận. Tôi viết thiên truyện này chỉ hai tuần là xong. Nó ko phải là câu chuyện của riêng ai…Trong nồi ô nhục vì cơm áo gạo tiền của kẻ xa xứ, sự giữ lại ở mồi con người một tấm lòng, một niềm tin hàn gắn đổ vỡ nhiều khi bị bản năng lấn lướt, trở nên mong manh dễ vỡ tới vô cùng. Nhân vật chính của câu chuyện đã định nhẩy lầu tự tử khi phát hiện ra niềm tin cuối cùng bị đập tan…

Tôi cắt máu ra viết thiên truyện này, tới nay, đã hơn bẩy năm, mà nước mắt vẫn chưa khô khi đọc lại nó, song tôi viết không để lên án cá nhân ai, mà chỉ muốn để bạn đọc trong nước chia xẻ cho những người đồng bào của mình buộc phải xa lìa tổ quốc. Ra đi vì những điều cần nhưng khốn nạn. Nhân vật phụ nữ trong TN này cũng là một nạn nhân…

Rất nhiều người tại Đức đã đồng cảm TN này. Khi TRuyện in lại ở Tuần báo Đức Việt, anh Phương, chủ bút bảo, nhờ TN của anh, tôi có thêm bạn đọc. Viết văn , tôi ko muốn qua nó mà lập danh, tôi chỉ muốn nhờ nó ghi lại chính những khoảnh khắc đau khổ của con người quanh tôi, của bạn bè, của đồng loại hay của chính tôi mà chính tôi hay ai đó như tôi tự đứng dậy.

Xin cám ơn những ai quan tâm tới các tác phẩm của Thọ Muối

Trong bão tuyết

Bây giờ là tháng 12. Sau Noel, tất cả, cả thời gian, dường như đóng đông lại bởi nhiều ngày lễ và nguyên nhân chính là thời tiết quá tồi tệ. Băng như pha-lê bọc lấy cây cối, treo như thạch nhũ, rủ dưới đường thoát nước ngang mái nhà. Mặt sông, hồ đanh cứng một lớp băng trong suốt. Và, gió xoáy thổi ào ào những hạt trắng rắn cưng như cát, suốt từ sáng qua đêm, ngày lại ngày. Mọi năm ấm hơn, thời điểm này hoa Forytchia(1) đã bắt đầu xé vỡ băng giá, xé toạc lớp vỏ khô rộp vì bỏng lạnh, khoe những mầm tơ để ít bữa rực hoa rộm vàng như nắng hạ. Năm nay, Forytchia khi cành trơ khấc lá, chao đảo thảm hại trong bão gió, cố lay lắt sống qua cái buốt cứng hàm của mùa đông .

Trước đó ba tháng, tại vùng hắn ở có đứa bạn bị những người đồng hương đột vòm(1). Bọn chó hoang tha đi của gia chủ, bạn gái vợ chồng hắn 15 ngàn Euro tiền hàng. Lại cách đây không lâu, tám nhà nữa bị cạy tung cửa. Chúng khuân đi cả đồ vật cũ. Tin ấy như một đợt gió hoang mang ập vào nhiều gia đình Việt lương thiện. Vợ hắn sợ hãi, nhưng cô tin ở kinh nghiệm và bao sự từng trải của chồng.

Hắn bình tĩnh dặn thằng con riêng của vợ: “Tao ở nhà thì không nói gì. Nhưng đi vắng, bọn trộm có lọt vào, cứ cho nó lục. Đừng sợ, đừng chống cự. Chẳng thằng nào trên đời này đẩy cửa là bắn luôn, hay chém phăng đầu chủ nhà. Còn nếu nó đông mà tao ở nhà, con chỉ có trách nhiệm gọi điện thoại cho cảnh sát. Còn lại là việc của tao”. Đứa trẻ vừa mười tám tuổi, đứng trước hắn, bấy lắm! Nếu ai hơi tinh đời, nhận ngay ra nó như một chú dê tơ vừa nhu nhú mầm sừng và đối diện là con sói già. Nó nhìn bố dượng không chớp và “dạ” nhẹ. Thực ra, thằng bé cũng từng nếm trải. Năm còn ở Hà Tây với ông cậu, cũng từng lang thang trốn nhà đi bụi mấy tháng. Còn khi bà ngoại và ông cậu tống nó ra khỏi nhà, chút xíu nữa nó đã trở thành bụi đời chuyên nghiệp trên sân ga Hàng Cỏ. Nhưng quả thực, nó chưa thấy ai như “lão già” này. Cái gì cũng không lọt khỏi mắt lão, dù một lời nói dối xâu vừa lỗ kim.

Tuy nhiên, ở đời không thể chủ quan được! Đừng khi nào để mình rơi vào cảnh huống bị động! Hắn nghĩ vậy và tìm cách giấu tiền. Tổng số 25 ngàn Euro. Hắn đếm hai lần số tiền trước khi niêm phong chiếc phong bì chống ẩm, lại viết số tiền lên mặt phong bì, cẩn thận ghi ngày tháng. Hắn để tiền trên hốc nóc tủ ngoài hành lang, nơi có hộp công tác(1) lõm vào. Hắn nghĩ, giấu chỗ này, tưởng sơ sài nhưng sẽ gây bất ngờ. Hắn chặn hai cuốn địa chỉ điện thoại nặng trịch lên cái gói tiền. Tại đó có cái hốc nhỏ, nếu ai kéo cuốn điện thoại, túi tiền sẽ rơi ngay xuống đó mà chạy xuống đằng sau chiếc tủ cao nặng đã bị phích bằng hai bộ ốc vào tường. Việc giấu tiền sau ngày bạn hắn bị đột vòm. Ba tháng rồi!

** *

Hôm ấy là chúa nhật. Gió thổi khốc liệt hơn. Lạnh tới mức hắn và vợ nghỉ hai buổi chợ. Thời gian ngày nghỉ như dài ra, trôi chậm lại. Hai buổi chợ mất đứt hai trăm Eu là ít! Đúng vào tuần lương của Đức. Đúng ngày sát Noel! Vợ hắn cứ đi ra lại đi vào. Luôn chép miệng và ngó ra ngoài trời.

- Năm nay việc buôn bán thực quá tồi tệ. Mình đã ăn lẹm vào vốn cái. Bù vào tiền ăn của nhà ta, chi nước thải, nước nóng trội ra, và điện, chi chữa xe, tiền bảo hiểm sức khoẻ, từ năm thêm thằng con em, bảo hiểm ép tăng nữa. Tất cả hơn tám ngàn. - Hắn nói với vợ.

- Vâng, em biết. Từ khi đổi tiền mới, cái gì chẳng tăng giá. Tốn kém! - Người vợ đang nhặt nhạnh mấy túi ni-lon bao bì gấp xếp cẩn thận, để dùng cho bao việc lặt nhặt trong nhà, mà nhẽ ra phải chi mấy chục sent từng tháng.

- Đồng USD lại tụt rồi! - Hắn nhả khói thuốc lên trần nhà. Tách một cái, mẩu thuốc bay lên lọt đúng vào cái gạt tàn để cách hắn hai tầm với. Màn hình nhoang nhoáng chuyển từ tin tài chính sang tin Mỹ mang lính đi chuẩn bị choảng nhau. Khuôn mặt hắn bị ánh sáng hắt ra, nhợt nhạt, hơi lạnh. Cái đi-văng cũ, da mềm màu huyết dụ, vừa là chỗ ngủ của hắn vừa là nơi tiếp khách, phát ra tiếng kêu ọt ẹt.

- Ông xem thế nào. Kỳ phép này của ông, mang USD về mà chi. Em tính, để Euro lại, sau này có giá đấy - Tiếng người vợ nói vọng vào.

- ừ, sẽ mang tiền USD về. Cô ở lại, khi tuyết gió quá đừng tham mà ra chợ. Bây giờ hai đứa đã có tuổi. Có giàu thì giàu rồi. Ngộ nhỡ, cô ốm lăn ra thì chả bõ. Tôi thu xếp xong mọi việc ở Hà Nội sẽ sang ngay với ba mẹ con. - Hắn nhẩn nha.

Cái câu có giàu thì giàu rồi mỗi lần gã nói làm người đàn bà đau thót tim. Chị vẫn thế. Số tiền hơn bảy chục ngàn USD gửi mẹ đẻ của chị ở Hà Tây đã tiêu tan trong một năm. Mẹ chị đã dùng tiền ấy đầu tư cho cô em bà ở Sài Gòn. Bà dì chị phá sản, tiền tan như khói. Chị đau xót cắn môi mỗi khi nghĩ lại. Không tin mẹ thì tin ai? Dầu khi ấy hắn đã can, chị biết gửi ai giữ tiền hơn mẹ chị. Hai đứa chưa lấy nhau, chia tiền sòng phẳng xong, phải gửi về nhà. Hắn, nam giới, chôn tiền ở đâu chả được. Chị, nữ nhi, chắc nhất là gửi mẹ. Thôi thì cơ sự đã như vậy, chả nhẽ con lại cắn xé, ăn thịt mẹ trở lại. Chị chỉ trách mẹ một điều, vì tham lãi to mà tự động sử dụng số tiền ấy. Vỡ lở rồi cũng không dám nhận lỗi về mình, lại chửi chị, thành người mang tiếng. “Con cái gì, nó là hạng chỉ nghĩ đến tiền, mà quên tình mẹ con!” Cắn răng mà nuốt nuớc mắt với họ đương. Chị chỉ biết khóc. Phải rồi, ở quê, ai cũng nghĩ chị giàu có, tiền như nước. Về phép, cả họ có quà. Có ai biết cái nỗi tha hương, mặt gục vào tuyết giá, nhịn ăn nhịn tiêu, nhịn cả tình cảm. Hừ, cái đau nhất là sau đó để hắn, chồng chị, có thể khinh rẻ. Trong khi tiền hắn chôn ở anh em, bè bạn hắn cứ nguyên vẹn, lại sinh sôi ra. Đau lắm. Đau quá. Giá như chết được! Khi ấy, chị đã nghĩ, chết mà hai thằng con, đứa khỏi nghiện, đứa không bỏ học thì dám chết. Chết cho nhẹ mình mình, để con cái vơ vất sống như con chị, người ta còn đào mả lên mà nguyền rủa! Sự ấy diễn ra lâu rồi. Thế mà nhớ lại, đau thắt ! Nước mắt cố kìm lại vẫn lã chã. Khổ quá, chị biết mẹ tiêu dùng thế nào, vặn hỏi cho rõ từng khoản, lập tức đứa con chị bị đuổi khỏi nhà! “Chị nhiều tiền, nuôi lấy nó, kẻo mang tiếng tôi là ở nhà trông cậy vào tiền ở nước ngoài. Tôi là con ở nuôi anh em chị. Bây giờ lại là vú già nuôi con chị ư?” Trời ơi, người chứ có phải là cục đá mà gói mang con đi ngay được. Vậy mà thằng bé thốc tháo ra khỏi nhà. Anh ấy nghe tin, khẩn cấp bay về. “Gia đình tôi sẽ nuôi nó!” Chị vẫn biết ơn chồng khi hắn đón thằng bé về nhà bố đẻ, rồi lại tìm cách đưa được sang với chị. Nghĩ đi tính lại, chị thường đổ cho số kiếp. Kiếp người đàn bà mang chữ Quý, ngày nào ông giáo già ở làng đã bảo số con lận đận, mãi tới già mới được lộc của con cái! Cái ngày ấy chị như nụ hoa tầm xuân vừa hé. Nõn nường nhất huyện. Tin sao được! Càng lớn lên chị càng tự biết mình đẹp. Không đẹp, sao thời ấy bao hoạ sĩ về làng, tới tận nhà xin vẽ chân dung chị. Tưởng là lấy cái người hoạ sĩ ấy, thế mà trời không cho, anh đi bộ đội chưa đầy hai năm thì mẹ chị dứt khoát bắt chị lấy người bạn của ông cậu chị. Rồi tan. Tan là phải. Chị có yêu chồng đâu. Hai năm đi Đức, chắt chiu được đồng nào, chồng cũ tiêu hết, hai đứa trẻ trốn học không biết, về phép lần đầu tưởng cắn răng mà sum họp, lại hóa ra chuyến về chỉ cãi nhau về tiền. Chửi tục, cật vấn, lục soát, thậm chí hít ngửi cả cái bờ áo chị mỗi khi ra phố về. Trăm cái giả định hư đốn đập vào đầu chị. Năm sau ra tòa. “Ngôi nhà này mày đừng bao giờ quay về nhé”. Khốn nạn, nào chị cần gì của cải, mặc cho cái ngôi nhà ấy tuy của cơ quan phân cho anh ta, nhưng ai đã tu sửa, nâng tầng, ai đã nuôi con cả mười năm bao cấp, mà gã thì suốt năm tháng lênh đênh tứ xứ với cái nghề đo đường và cái máu xoè bài! Tưởng sau cái đau chồng con sẽ hết hạn má hồng, ai dè lại tới hạn chính mẹ đẻ chị gây nên. Thằng lớn ở với chồng và dì ghẻ chán đời nghiện ngập. Dỗ nó cai nghiện, ngon ngọt bao ngày về phép, vừa bước chân chưa hết hơi chăn hai mẹ con, đã nghe tin nó lại đâu vào đấy. Đôi khi chị không hiểu được thời cuộc bây giờ. Người chồng cũ không nói làm gì. Gã coi chị là kẻ thù là nhẽ thường tình, có thể hiểu được. Còn mẹ chị? Tại sao lại như vậy? Cứ nghĩ tới mẹ là như có một cục cứng chồi từ đâu chẹn cứng lên ngực. Nào chị có phải kẻ bất hiếu. Chị nhớ bao nhiêu là bao nhiêu những ngày còn nhỏ. Những ngày bao cấp về nhà, cha mẹ bòn vón cho gia đình chị. Chị cũng chu toàn tất cả mọi sự với mẹ khi có đồng ăn, đồng để. Thế mà đùng một cái, cả thiên hạ làm giàu, mẹ đốc chứng làm giàu, lỡ mang cả số tiền lớn như thế đánh bạc với đời, để tới cơ sự này? Hay là bởi chị cứ rộng rãi quá, làm ai trong nhà cũng nghĩ, sang Đức này có thể xúc vàng ngoài hè phố, hái đâu cũng ra tiền. Khổ quá, giá như người ngoài thì đã đành. Chính là con người chị tin tưởng nhất ở cõi đời sau những tan nát của chị. Cũng tưởng đi nước ngoài kiếm tiền thì an ủi cho cái phận mình. Thế mà chính cuộc đi kiếm tiền này, lại là cuộc li loạn có bao nhiêu điều, mà một người đàn bà như chị chẳng bao giờ muốn mang tiền ra đánh đổi! Trong bao đau đớn khi chia tay với chồng cũ, chị nhận được sẻ chia từ người đàn ông bây giờ là chồng chị. Vừa về ăn ở với nhau nơi đất khách, mâm cơm cúng tổ tiên cũng là mâm cơm cưới với hơn mười kẻ cùng cảnh chưa hả hết mùi rượu duyên rổ rá cạp lại, thì mọi tai họa cứ sồn sồn kéo tới từ sau nỗi đau thứ hai. Khổ quá, tệ nhất là trong số tiền mà mẹ phá đi cũng có cả tiền của anh ấy. “Anh cứ đưa tiền, rồi ở đây em gửi mẹ mua lấy mảnh đất mà dung thân về già của hai đứa mình”. Cuộc đời luôn chênh vênh thế nào. Chị thở hắt ra nghĩ tới hơn hai chục năm qua, từ ngày đi lấy chồng, như trời phạt chị. Bây giờ, điều an ủi duy nhất là thằng thứ hai qua được bên này. Chị trút được mối lo nặng nề bấy nay. Thằng bé lại biết sợ bố dượng. Cũng may là chưa khi nào nó ăn cắp của ông ấy. Nghĩ tới con, chị lại trào nước mắt. Hình ảnh thằng cả bị bố nó xích vào chân giường như lưỡi dao đâm ngập vào tim chị…

** *

Hắn chợt bật dậy. Thế là chỉ còn hơn tuần nữa hắn lại được trở về Hà Nội. Được nhìn thấy những ngôi nhà, đường phố, nơi hắn lớn lên. Gặp bè bạn và tha hồ bốc phét với chúng trên đê chó. Nghĩ mà khoái. Có lẽ phải tính toán lại số tiền mang về chi cho việc bốc xây mộ song thân, lại cho việc xây nhà sắp tới trên mảnh đất năm chục mét mà ngày xưa hắn kịp mua, trước khi giá đất cứ vùn vụt nhao lên.

Hắn đi ra hành lang. Chợt nhìn lên nóc tủ nơi hắn giấu tiền. Cuốn sách hơi lòi ra ngoài. Hắn chột dạ. Nhảy phắt lên, luồn tay vào.

Có đường lạnh chạy dọc sống lưng. Hắn giật tung hai cuốn sách nặng. Cái hốc trơ trọi. Một con nhện hoảng hốt chạy từ nóc trần sát đó và những sợi tơ màu khói chăng ra cả tay hắn.

- Mẹ nó cầm tiền ở đây à? - Hắn giật giọng hỏi.

Người vợ từ bếp chạy ra.

- Tiền nào?

- Tiền tôi giấu ở đây này. Đâu?

Người vợ hoảng hốt, mặt tái xám, đứng như trời trồng giữa hành lang căn hộ.

Gần hai chục phút sau, cái tủ bị tháo vít khênh ra. Nhìn rõ dăm con gián nhỏ xíu chạy hốt hoảng.

** *

Cả nhà bị lật, rũ tung từng thước thảm. Những cuốn sách và toàn bộ giường tủ, quần áo. Những chậu cây, đáy ti-vi và cả đằng sau những bức tranh.

Đã bốn tháng nay hắn có ngó ngàng gì tới số tiền đâu. Công việc làm ăn quá hối thúc hàng ngày cũng chả để hắn và vợ thở nữa là ngó vào cái thứ coi là nguồn vốn dự trữ kia. Trời ơi, đây là toàn bộ số tiền sau hơn mười lăm năm còn lại từ bàn tay chai cứng như thép của hắn. Có thể đùa được đâu! Mười lăm năm xa quê, lang thang ba bốn nước, bao nhiêu chuyện xảy ra. Bao người thân yêu nhất mất đi mà hắn chẳng thể có mặt để dẫu là chỉ khóc. Gia đình cũ tan nát. Gặp người đàn bà cũng có sự đau đớn tương tự, gắn bó. Tưởng xây dựng được tổ ấm mới. Tiền đã mất hơn bảy mươi ngàn rồi. Còn lại khoản cuối này, khoản từ ngày cha hắn mất, hắn tổng động viên tiền quay lại Đức.

Hắn đi đi lại lại không nói. Nhưng thực ra trong hắn cồn lên biết bao câu hỏi. Ai? Ai đã lấy số tiền này?

Hắn cố gắng bình tâm. Cách đây hơn hai tháng, lần ấy hai nhà Việt Nam nữa ở liền khu hắn sống, bị bọn trộm cùng một lúc, chờ gia chủ ra khỏi nhà, đã cạy cửa tự nhiên khuân đi tất cả những gì có giá trị. Hắn có bàn với vợ di chuyển số tiền xuống hầm. Rồi sau đó vì công việc, hình như không làm việc ấy. Nói chính xác hơn là vợ chồng có bàn, rồi sự làm ăn túi bụi của vụ Noel làm cả hai không kịp tiến hành thay nơi cất tiền xuống hầm nhà. Hay là vợ hắn? Hắn hỏi lại vợ lần nữa. Người vợ yên lặng một lát, rồi ngẩng lên nhìn vào đứa con gái đang đứng nép bên cánh cửa: “Không, em hoàn toàn không tự động làm việc ấy.”

Họ vẫn kiên nhẫn lục lại lần nữa khắp các phòng. Họ lục tung cả thùng rác, lục cả vào đống sách vở của đứa con gái còn nhỏ. Lại xuống tận tầng hầm, nơi vợ và hắn dự tính chuyển tiền xuống đó, dưới những tấm gỗ đẹp mà hắn nhặt nhạnh để định đóng một giá sách cho thằng con riêng của vợ. Không, những thanh gỗ đầy bụi. Không một vệt tay!

Đứa con gái sáu tuổi đứng tựa vào cánh cửa, giờ bước tới ngã vào lòng mẹ. Nó không hiểu việc gì đã xảy ra. Nó thấy khuôn mặt rất Boese(4) của cha nó. Nó thấy bộ mặt sợ hãi tái nhoét của anh nó. Nhất là khuôn mặt mẹ nó khi nào cũng xăm xắp nước ở mắt! Từng ấy với nó, một đứa bé sinh ra ở Đức, là một sự ghê gớm quá rồi. Nó khóc.

Hắn lôi tuột đứa trẻ vào phòng ngủ của hai mẹ con, ấn xuống giường. Ngủ đi! Bố sẽ tìm thấy tiền, ông già Noel sẽ tới gửi nhiều quà Noel cho. Hắn dỗ con. Con bé sợ hãi nhìn cha nó. Ôm cổ cha nó mà hôn rối rít. Bình thường chả mấy khi nó làm vậy. Nhưng hôm nay nó sợ. Sự sợ hãi vốn là bản năng của con người ta? Cũng chẳng thể hiểu ai đã dạy loài người điều đó ngay từ khi chập chững vào đời, hay là cuộc sống luôn bất trắc đã ngấm từ máu cha mẹ vào tận nhau thai? Hắn cắn môi, nhếch mép hé gượng cười, nói với con: “Con đừng sợ. Ngủ đi.” Hắn hôn vào má con bé như cắn.

Đêm, không ai chợp mắt tới sáng. Hắn đi đi lại lại, hết bật nhạc lại xem ti-vi. Rồi yên lặng, rồi hét lên. Chỉ có câu hỏi duy nhất miết xoáy lên trần chạy vang cả ba phòng trong căn hộ: “Tiền! Tiền ấy ai lấy? Trộm? Đứa nào? Ai? Sao nhà không có vết cạy cửa? Sao chúng không khuân cái đầu DVD thu phát modern, nhẹ tênh, có bán lại ở chợ Việt Nam cũng được cả ngàn? Ai?”

Họ không tìm ra câu trả lời. Suốt ba tháng qua, không có khách ngủ lại. Có ngủ lại cũng là ngủ với hắn hay với vợ, sao có thể biết tiền ở đâu mà ban đêm mò ra lấy rồi chuồn? Vô lý, vô lý! Chỉ có tao và mẹ mày biết. Mày có biết không? Nó ở đâu?

Cứ như thế tới khi mặt trời soi rõ những con gió vẫn quất mạnh ném tuyết ngập tới nửa mét trên thị xã, trên cánh đồng.

Bữa ăn nguội buổi sớm thực yên lặng. Nghe rõ tiếng bánh mỳ khi bẻ ra thả vào sữa. Tiếng nuốt sữa của đứa trẻ. Một lát, hắn nói chậm, nhưng gằn:

- Một mất mười ngờ. Bây giờ chỉ có ba người. Không ai ngoài chúng ta. Tao? Mẹ mày, hay mày? Chả nhẽ tao lại ăn cắp tiền của tao? Mẹ mày thì không rồi. Mẹ mày không thể phản bội lại tao. Điều ấy mày chắc hiểu.

Hắn nuốt một ngụm Netcafe rồi nhìn vào mặt thằng bé.

- Mày nghĩ kỹ đi. Tao không khẳng định mày lấy. Nhưng tao hỏi, mày có vô tình thấy nó mà giấu đi không? Hay là mày tưởng số tiền ấy của khách rơi ra? Mày biết tính tao đấy. Tao căm thù nhất trên đời tính ăn cắp. Nhặt được của cải, không phải của mình làm ra cũng là sự ăn cắp. Là phản bội, nhất là bây giờ mày biết số tiền ấy là của tao, của mẹ mày, của chính cả mày và em mày. Nhưng tao thề có tổ tiên tao, nếu mày thú nhận, xin lỗi mẹ và em, tao sẽ tha thứ. Tao chỉ van mày từ nay nên thành thực. Đừng nói dối và giấu tao điều gì. Đừng trách tao nghi mày. Nghĩ kĩ đi. Mày thiếu trung thực với tao, dẫu là khi mới bước chân sang đây tao đã nói cả trăm lần về điều ấy. Mày luôn trốn học đi chơi. Mày bỏ đi cả tuần kì tết năm trước sang nhà chú Tâm khi tao và mẹ mày về Việt Nam. Bao nhiêu cái lặt vặt nữa, chứng nào tật ấy. Vậy sao tao có thể tin mày? Mày hứa với tao học chăm chỉ, học lý thuyết lái xe. Tất cả chỉ là hứa suông. Mày thích chơi điện tử, vào nét hơn là rèn luyện để trở thành người đàn ông đủ tài mà chống chọi với cuộc sống!

Người vợ ngồi né mặt, với nhìn sang đứa con gái nhỏ. Thằng bé thì cúi gầm mặt xuống. Tất cả những điều ấy không sai với nó.

- Nhưng con không lấy và không biết số tiền ấy. Con thề!

- Thề! Tao thề được như mày. Vậy ai đã lấy tiền? - Hắn chau mày. Giọng nhỏ, đanh sắc và cặp mắt sáng tóe lửa như mũi mác phóng vào mắt thằng nhỏ.

- Con thực không biết! - Thằng bé lé mắt lên yếu ớt nhìn dượng nó. Nó hiểu, con người này đã đối xử với nó rất tốt. Tốt hơn cả cha nó. Chả thế nó từng nói với bà giáo Hega trong kỳ nghỉ đông vừa qua: “Dượng em rất được, ông ta biết em ốm. Biết em bất kỳ ở đâu, còn cha đẻ em không bao giờ biết em đang ở đâu từng ngày. Chỉ tội dượng em tính nóng hơn lửa. Ông ta rất thương mẹ con em. Bà hiểu không?” Nó lí nhí: - Quả thực con mải chơi. Con từng ăn cắp ở nhà. Nhưng từ ngày sang đây con không ăn cắp. Con biết bố rất ghét và con đã thề với bố về điều ấy rồi! Con có lỗi là còn hay nói dối. Con sợ bố mẹ mà nói dối, chứ con không muốn nói dối!

- Mày sợ. Mày sợ, nên để con chim mà mày luôn mồm kêu yêu nó, chết rét trong lồng, khi mày chạy đi chơi suốt cả tuần lúc tao và mẹ mày vắng nhà. Mặc kệ băng giá hành hạ con vật. Vậy ai tin mày? Nếu mày là con đẻ tao, tao sẽ đập chết, hiểu chưa?

- Bố ơi ! Con xin bố tha cho anh! - Đứa bé gái cất tiếng, nó sắp khóc. Nó chạy từ lòng mẹ nó tới bên anh. Tự nhiên người đàn bà nước mắt chảy lã chã. Thằng bé cũng âm thầm khóc.

Yên lặng.

Hắn dịu giọng:

- Mày nghĩ kỹ đi. Ai cho mày ngày hôm nay? Tao đã quỳ xuống van nài bố tao, chị tao nuôi tạm mày khi mày đói gầy trên sân ga trở về với mẹ mày. Tao lại chạy ngang chạy dọc đưa mày sang đây cho mày hết cái cảnh có mẹ mà như không. Tao sắm cho mày từ cái áo tới cái quần. Tự tay tao. Tao cũng từng như van mày, hết ngọt tới xẵng rằng là đàn ông thì phải kiêu ngạo mà tự tay mình làm ra tiền. Mày nghĩ lại đi, con. Tao với mày chả ruột thịt gì. Sao tao lại cắn răng nhớ thương con tao ở quê hương để chăm cái đứa chẳng máu mủ như mày? Bởi vì mẹ mày đấy, hiểu chưa con. Mày thấy nó rơi ra mà nhặt được thì đưa cho mẹ mày. Tao thề, hai thằng đàn ông, thề có hương hồn cha mẹ tao, rằng tao sẽ không trừng phạt…

Hắn nghẹn lại vì xúc cảm thực sự. Không khóc, nhưng giữa ngực hắn có một dòng chì chảy nóng giẫy bò ngoằn ngoèo trong từng đường gân mạch máu. Hắn cố giữ mặt lạnh:

- Thôi, tao nói vậy là đủ. Cho mày suy nghĩ từ giờ tới tối. Nếu mày chứng minh được tiền này người ngoài vào lấy. Hay là vợ tao, mẹ mày, lấy tiền của chính chúng tao? - Hắn cười gằn. - Mày nói đi! Sự thật ! Tao không cần nói tới nó nữa. Tao sẽ lại làm lại từ đầu. Tuy là mày biết đấy, cơ hội kiếm tiền chẳng bao giờ như ngày hôm qua. Tao già rồi. Nhưng tao sẽ không sợ. Tao yêu thương tất cả, nhưng tao căm thù sự phản bội và không sợ bất cứ khó khăn nào, nhất là nó tới từ kẻ thù của tao ở đời. Tao chống cự đến cùng! Mắt hắn đột nhiên toé sáng.

** *

Bóng tối bắt đầu trùm lên thị xã. Ngoài kia, tuyết vẫn trùng trùng rơi. Chỉ còn một ngày nữa là Noel. Những ngọn nến điện, những đèn hoa nhấp nhánh sáng cháy trên các khung cửa muôn nhà, nhập nhòa vào từng đợt tuyết trắng như sữa trên mặt kính, làm khung cảnh đêm huyền kỳ thêm.

Con bé bám tay vào thành cửa sổ. Nó nhìn sang dãy nhà bên kia đường. Tại đó có mấy người đi lại thấp thoáng trong gió. ở nhà nó đang xảy ra điều gì? Bằng giờ này mà vẫn chưa thấy ông Noel tới. Mọi năm ông già ấy với cái áo đỏ tươi và chiếc mũ cũng đỏ tươi đã tới phát quà cho nó. Chắc năm nay ông ấy giận gia đình nó mà không tới. Muốn ông già Noel tới, phải học giỏi và không được cáu kỉnh. Bố nó nói vậy. Nó thì học tốt rồi, vậy thì chỉ tại bố mẹ nó đang cáu kỉnh mà ông già Noel không tới thôi. Quay lại nơi hai bố mẹ nó đang ngồi bên nhau nói chuyện rất nhỏ, nó hỏi: Tại sao bây giờ ông già Noel chưa tới, papa? Mẹ nó nhìn đứa con cố nói nốt một câu với chồng: “Em nhục lắm rồi. Đã hỏi nó rất kỹ rồi. Em van anh đừng tống nó về Việt Nam. Cho nó tới Muenchen đi vặt lông gà vậy. Nó về nhà chắc nghiện như thằng anh nó. Thế thì em tự vẫn!”

Hắn ôm con gái vào lòng, vuốt tóc đứa con gái. Mọi năm giờ này hắn đã đóng bộ ông già tuyết từ hầm đi lên giả giọng ồm ồm, xì xồ tiếng Đức, phát quà cho con hắn. Bây giờ thì bụng dạ nào mà làm việc ấy. Hắn nói dối: “Con à, năm nay bão, xe hươu của ông ấy hỏng bánh rồi, ông ấy cũng già hơn cả ông nội con, không tới được đâu!” - “Thực không, papa? Ai nói cho papa biết xe ông ấy bị hỏng?” Hắn ôm đứa nhỏ vào lòng: “Bố gọi điện hỏi rồi mà. Nhưng thế nào ông ấy chả gửi quà cho con. Để sớm mai bố ra mở hộp thư. Chắc có quà, con ạ. Ông già Noel tốt lắm. Bây giờ ngủ đi!”

Tuyết vẫn ù ù đập vào cửa cho tới sáng. Phòng thằng lớn vẫn lom dom cái đèn học. ánh sáng chiếu qua khe cửa hở một vệt như mũi lao đâm sang nơi hắn ngồi hút thuốc suốt đêm. Hắn ôm mặt muốn khóc mà chẳng thể.

Hắn nhớ lại cả cuộc đời hắn. Khuôn mặt luôn khó đăm đăm của người vợ cũ. Ngôi nhà nhỏ của tổ tiên mà khi chia tay, hắn cắt phăng như cắt một khúc ruột, cho đứt con người nguyền rủa kia chỉ vì đứa con gái bệnh tật. Những ngày trôi dạt bên Nga. Cái phòng nhỏ khói a-xít lơ lửng, dày đặc quyện che kín cả trần nhà. Cuộc di dời đầy mạo hiểm qua nhiều biên giới. Hắn chưa khi nào thua ai cả. Vậy mà tại đây hắn mất mát bao nhiêu mà cuối cùng lại bị phản bội. Trời ơi! Giá mà hắn biết rõ ai lấy số tiền này! Hắn sẽ đâm ngập dao vào giữa tim kẻ nào ăn cướp cạn của hắn. Hoặc bắn nát đầu mà ném vào rừng cho chó sói cắn đi từng mảnh. Sự nghi ngờ bao giờ chả là nghi ngờ! Hắn không phải là loại người làm điều không có bằng cớ. Cuộc sống của hắn cũng bao lần chịu oan uổng ở quân ngũ, ở cơ quan, ở đời, nên hắn thận trọng. Còn chính xác thằng chó ấy lấy tiền nhỉ! Hắn đau đớn chừng nào bởi như vậy không chỉ là mất tiền! Hắn nhớ tới ngày xin gia đình hắn đón thằng nhỏ về nhà, cha hắn là con người của ngày xưa thủng thẳng: “Dây bầu đeo lấy quả bầu. Thế gia tộc hai đằng của nó đâu?” Hắn quỳ xuống: “Đây là con của người đã chia sẻ bấy nay với con ở bên đó. Con không thể bỏ rơi bè bạn khi hoạn nạn. Con sẽ lấy cô ấy làm vợ. Thằng bé không phải con của con. Nhưng nó là người. Cha hãy vì con mà thương nó!” Thế mà bây giờ thằng ấy dám phản bội lại hắn. Hắn giận dữ miết tay xuống cạnh bàn. Ngón tay cái hắn ứa máu. Hắn chả thấy đau. Thản nhiên liếm.

Hắn đau khổ tới cùng cực.

Thực ra, con người như hắn thật đáng thương. Khuôn mặt hắn có vết sẹo dài trên trán. Đấy là vết thương của chiến tranh, ngày hắn đánh vào giải phóng thị xã Tuy Hoà. Còn cái vết sẹo to như con giun ngoằn ngèo chạy từ bả vai tới xuống tận cổ tay trái là nhát dao kỷ niệm của đám thợ hoàn kim tại Nga, vừa là ân nhân vừa tí nữa là kẻ thù của hắn. Ân nhân vì khi nuớc Nga sụp đổ, hắn mất hết cả tiền sau chuyến đi tận Kavkaz đổ bột nghệ bị đám cướp lạ chí súng vào đầu mà lột sạch. Đang lang thang ngoài ga, đói tưởng chết thì gặp họ lôi về nhà cho ăn, cho mặc và cho cả chân giúp việc tách vàng trong cái phòng ngột ngạt. Tí nữa là kẻ thù, vì bữa tiệc cuối năm, say, cả lũ say mèm vì hơn mười chai Vodka. Thỏi vàng vừa cô lại trong túi quần hậu của tay nhóm trưởng không cánh mà bay sau giấc ngủ trên thảm, giữa đám vỏ chai và thức ăn bữa bãi. Thế là chúng kéo hắn, cái thằng vô gia cư bị nghi ngờ nhất vừa mới quen chưa đầy ba tuần lên, với sợi dây dù trói ngược cánh tay, treo lơ lửng trong phòng bếp. Hắn có chôm đâu mà khai? Con dao bếp Nga sắc đã lướt nhẹ từ vai tới cổ tay để máu rỏ lõng võng như cắt tiết gà xuống nền bếp. Người ta lại lập tức hạ hắn xuống cấp cứu và theo luật giang hồ hắn được tặng lại nhát dao ấy cho kẻ cứa hắn, khi thằng mất vàng tìm thấy thỏi vàng nửa kí rớt ra sau bồn cầu toa-lét hồi đêm trong trạng thái say xỉn. Có thể sự oan uổng ấy làm hắn thận trọng hơn với thằng bé trong vụ này. Thận trọng thôi, chứ khả năng nó chôm là nhiều. Bởi hai trường hợp khác nhau. Hắn hư đốn giang hồ, nhưng không có tiền sử trộm vặt. Hắn giang hồ cũng vì biết bao điều của cuộc đời, chứ thực ra hắn sẽ giữ được bộ mặt không tới nỗi nào, nếu được sống trong ăn học tử tế và đừng đói nghèo. Vâng, đúng như vậy. Hắn bất giác sờ tay lên đôi má sọp lại. Giá đầy đặn hơn. Giá xoá đi nét phong trần, con mắt sáng và cái mũi thẳng, đôi môi trái tim hồng lại, phải là một khuôn mặt đẹp của đàn ông!

Tiếng đồng hồ vẫn tích tắc từng giây đủ cho cả ba con người trong ba phòng nghe rõ. Chỉ có đứa con gái nhỏ là ngủ. Nó mê gì? Môi son hé cười và đôi tay hồng nắm lấy búp-bê cô Công Chúa Tuyết.

** *

- Tôi đồng ý. Ngay sau tết Tây, thằng con bà sẽ đi xuống phía Tây chỗ bọn thằng Tuấn Tanh nhổ lông gà. Nó không được ở đây nữa. Để cho thằng Tuấn Tanh trị nó, cho nó biết thế nào là lễ độ. Không học hành gì nữa. Mà cũng còn đâu tiền cho nó ăn học tiếp. Mười tám rồi. ở Đức này, mười tám là phải tự lập. Các bà mẹ như cô không học ra điều gì khi xem phim tài liệu về đại bàng sao? Đại bàng mẹ lấy cánh đủn con xuống vách đá, khi con chim nhỏ vừa đủ lông. Con chim non chấp chới, sợ hãi đập cánh và nó nhao vào luồng khí bay lên! Muốn con bà thành đại bàng hay mãi mãi như con gà nhép nép vào cánh mẹ? Vả lại khi hai thằng đàn ông phản bội nhau, không tin nhau, thì sống cạnh nhau tất có ngày xảy ra hậu hoạ. Tôi không sợ nó, nhưng tôi sợ chính tôi! Tôi hy vọng cái ưu điểm của con bà là chăm chỉ lao động, được rèn giũa bấy nay sẽ giúp nó nên người. Còn ở lại với tôi - không thể được! Tôi cũng nhắc lại với bà là nếu tôi phát hiện chính xác, nó đã lấy tiền của tôi, thì bà liệu tìm nó và bắt nó phải quỳ xuống trước em nó. Tôi sẽ biết, trước và sau sẽ biết. Số tiền ấy không thể là cái kim mà giấu được. Nó phải tiêu. Phải gửi về cho bố đẻ nó. Phải mua xe mới chẳng hạn…! - Hắn và vợ bỗng đồng loạt thở. Không phải thở dài. Tiếng thở hắt ra, nhưng ở hai người đều có ý nghĩa khác nhau tới đối nghịch.

Bên ngoài có tiếng chuông.

Thằng bé ra mở cửa. Đó là bạn gái của vợ chồng hắn. Một người đàn bà tứ tuần, quắt queo như trái quéo héo.

- Em nghe tin hai bác có việc không may! Có mỗi mình em ngủ lại đêm ấy. Anh chị ơi, em cũng bị đập hộp, mất tiền, sao mà nỡ lòng nào nhặt được tiền của hai bác!

Chưa đặt đít đã đặt mồm - Hắn nghĩ - Ai bảo cô nhặt tiền?

Người đàn bà sà tới bên thằng nhỏ:

- Cô mong cháu lên làm, mà nhà có việc, không đi làm, sao không báo cô? Cô không gọi điện cho mẹ cháu thì sao cô tìm ngay người khác thế chân cháu. Khổ quá, anh ạ. Quán ế cả năm, bây giờ tụi nó mới đi mua sắm. Em bỏng rộp hết cả tay vì dầu đây mà vẫn phải lăn vào. Thôi, cháu còn nghỉ đông có hai tuần. Việc xảy ra đã rồi. Để cháu lên làm tiếp với em xem sự thể ra sao. Gớm, khổ anh chị quá. Nhà em mất tiền còn cái quán nó đỡ, chứ anh chị thì… ấy, hay năm nay chị cũng sao Thái Bạch chiếu như em nhỉ?

Người đàn bà kéo đứa con trai và vợ hắn vào phòng nhỏ. Từ đó vọng ra tiếng rì rầm. Hắn yên lặng hút thuốc tại phòng khách và nửa tiếng sau, lòng hắn đau thắt, rối bời khi nghe rõ tiếng thét của thằng con vợ trong phòng :

- Con sẽ tự tử, con sẽ chết để chứng minh cho cô và dượng là con không biết gì!

Dẫu sao, hắn vẫn là tên giang hồ những có gốc gác một gia đình tử tế. Hắn nhảy bổ như cắt bay vào phòng thằng nhỏ. Hắn nhìn rõ, thằng bé nước mắt lưng tròng. Người đàn bà đang ôm lấy đứa trẻ và vợ hắn lại ôm lấy vai người đàn bà.

Hắn quay ra ngoài. Ôm lấy đầu gục xuống mặt đệm sa-lông. Lấy cái gối úp lấy mặt.

Nửa tiếng sau. Hắn ra chốt cửa, sau khi người đàn bà và thằng bé lí nhí chào hắn. Từ hành lang vọng lên tiếng bàn bạc rì rào. Tiếng nhỏ nhưng bay lên, đập vào trần, rót xuống đôi tai tinh như tai chó sói của hắn:

- Hay là cô và cháu ra ngân hàng vay tiền nói là sửa chữa quán để bù tiền mất của cha mẹ cháu?

Có tiếng thằng bé, không rõ lắm:

- Cô muốn gì cháu cũng làm…

Tiếng xe nổ máy êm êm. Hắn hình dung ra chiếc xe của họ bò loằng ngoằng trượt trên con đường còn nhầy nhục giá băng. Trời lại sắp tối rồi và tuyết vẫn không ngừng rơi.

** *

Mười một giờ đêm. Chỉ còn tiếng nữa là hết sang ngày Noel.

Con bé đã ngủ. Người vợ hắn giấu mặt xuống gối, nhưng thực ra không ngủ. Thế là đã ba đêm hắn không ngủ. Hắn rất mệt. Hắn tới bên bàn thờ thắp một nén hương cho cha mẹ hắn và bật nhạc . Tiếng nhạc giao hưởng làm thần kinh hắn dịu lại. Hắn uống một cốc vita tổng hợp và dựa lưng vào đi-văng.

Bóng người mở cửa rón rén vào hành lang. Bóng đen tới cửa nhìn hắn. Hắn nín thở vẫn giả vờ ngủ. Bóng đen tới bên chỗ hắn giấu tiền và trèo lên bậc gờ tủ. Hắn bật ra nhanh như tia chớp giật tóc bóng đen và tung đầu gối lên. Hắn dang tay chém như máy vào gáy đối thủ cho tới khi chỉ còn là cái xác mềm nhũn. Hắn cười. Rút con dao bấm ấn nút và cứa mạnh, đứt rời bàn tay thằng chó ăn trộm gọn như vết đạn cắt mà hắn nhìn thấy ở đâu. Sợi gân giật giật làm hắn tối mắt. Cái mặt bị lật ngửa và hắn nhận ra khuôn mặt quen thuộc của đứa con vợ. Hắn thét lên, không thể như vậy!

Tiếng thét làm người vợ choàng tỉnh. Chị chạy ra, chồng chị vẫn đang vật vã trên đi-văng và nói gì ú ớ.

- Anh! Tỉnh dậy, tỉnh dậy!

Hắn choàng tỉnh. Ngơ ngác ngồi dậy. Mồ hôi đầm đìa trên khuôn mặt phong trần của hắn.

Đèn bật sáng trưng. Mười hai giờ kém bốn phút. Bây giờ là sắp sang ngày 25 tháng cuối cùng của năm.

Hắn để vợ quay lại với con. Ra vốc nước lạnh vỗ vào mặt. Tự nhiên sau giấc ngủ, hắn thấy nhẹ lòng, dẫu buồn tê tái. Hắn tới bên con trong phòng ngủ. Tự nhiên hắn nhìn vào cái tủ đựng đồ chơi của con. Những ngăn kéo xếp nhiều đôi tất xinh xinh và những con giống xinh xinh. Như có một ma lực xui khiến, hắn mở ngăn kéo sát đất, mò tay vào cái hộc bé dưới thanh gỗ vừa rộng đúng bàn tay dài sáu chục phân.

Bàn tay hắn đụng vào hai tập giấy. Cái sức nóng ở tiền hay cảm giác của máu sói làm hắn giật thột.

Đây rồi!

Hắn giật ra, ánh điện chiếu sáng hai gói tiền. Mà tại sao hai gói tiền?

Cái gói của hắn, dày hơn, bên trong. Giấy còn nguyên niêm phong và dòng chữ hắn ghi. Cái gói mỏng hơn, bên ngoài. Tung ra một sấp tiền Mỹ và Euro. Không hiểu sao hắn bình tĩnh đến thế. Hắn quay người lại giơ hai tập tiền lên:

- Ai giấu tiền vào đây? Lại cả tập tiền này nữa?

Người vợ lật sấp người lại, nhao lên:

- Trời ơi! Tiền à? Thấy rồi à? Trời ơi, con ơi! - Chị líu cả lưỡi.

Hắn lạnh lùng:

- Hãy giải thích ngay lập tức vì sao bà phản tôi. Tiền này ở đâu ra? - Hắn quẳng tập tiền mỏng một cách khinh bỉ xuống đất!

Người vợ oà khóc.

Chị quỳ xuống thảm.

** *

- Hãy cho em nói. Anh hãy giết em đi, nhưng cho em nói lời cuối! Đây là tiền em ăn cắp của hai chúng ta giấu riêng. Nó là hai ngàn bảy trăm USD và hai trăm rưỡi Euro. Hôm qua, chính hôm qua em sợ quá giấu vào đó. Vâng, mỗi ngày em lấy ra năm ba chục và cất riêng. Còn em không biết tại sao số tiền kia ở đấy. Anh và em cũng có lần bảo giấu nó vào đấy, nhưng có ai làm đâu nhỉ? – Chị suy nghĩ một lát, rồi trở nên bình tĩnh. - Sau đó anh bảo mang xuống hầm! Hãy giết em đi! Chỉ từng kia tiền ăn cắp, em đủ tội chết vì phản bội anh. Vâng, em đã phản bội. Từ ba năm nay, anh luôn cáu mỗi khi em gửi tiền về cho con trai em. Vâng, nó nghiện, nó láo với anh, nó khốn nạn, nhưng nó là con em.- Tự nhiên giọng người vợ rất chậm và rành rọt. Chậm cùng với những giọt nước mắt chậm đổ xuống mặt thảm. - Nhưng em hy vọng nó sẽ hết nghiện. Anh đã thù nó tới xương tuỷ khi nó chửi anh. Anh đã nuôi thằng em nó và dạy nên người. Nhưng chắc anh sẽ chẳng bao giờ cho nó một đồng sau này, nếu nó có vợ và con. Anh là đàn ông, anh tỉnh táo hơn và chỉ ra biết bao điều em lầm lỡ, nhưng anh ơi, anh không biết trái tim của em đau đớn cực khổ ra sao, khi nghĩ, dù thoáng qua thôi, tới hòn máu của em, dẫu nó là hòn máu khốn nạn. Vì thế em quyết định chuẩn bị một chút thôi cho nó… Hãy giết em đi! Em ích kỷ, phản bội anh, con gái và… Nhưng bốn năm nay không làm ăn ra tiền, em sợ, sợ tới ngày nào đó chúng ta sẽ không còn một đồng dự trữ. Chúng ta còn có xã hội ở đây. Không sợ rét và đói. Thằng bé em nó sẽ lớn lên, đi làm và không lo gì. Còn thằng kia. Giọt máu của em?

Người đàn bà bò lết tới chân hắn. Nước mắt ngập đầy hốc đôi mắt mà bao lần hắn đã thương xót hôn vào…

Ngay khi đó, con bé gái thức giấc. Nó bật ngay ra lao vào mẹ nó và ôm ghì lấy cổ mẹ. “Mẹ, Ma ma, Ma mi!” - Nó rối rít gọi.

Hắn đứng như trời trồng.

Khi ấy, từ đâu như có trăm ngàn mũi mác cắm sâu và ngoáy mãi, tàn nhẫn, vào con tim hắn. Khuôn mặt câm lạnh. Nhưng thái dương hắn, sợi máu giần giật vì biết bao điều, chớp mắt phanh phui, đan nhau: chà đạp, hành hạ, cởi phá những điều trong u tối, với cả sự hoan lạc tới điểm cuối của kẻ biết được bí mật của sự thật.

Không hiểu sao, dẫu là còn mong manh tơ vò điều chưa tỏ, hắn chợt nhớ tới khuôn mặt đẫm máu của thằng con vợ trong mơ. Hắn ngắt lời vợ:

- Thôi, câm đi! Gọi ngay điện cho con. Nó là người đầu tiên phải biết rằng chúng ta đã tìm thấy tiền. Điều ấy quan trọng nhất. Còn tôi và bà sắp chết cả rồi. Hiểu chưa? Đồ… - Hắn nghẹt lại.

Nói rồi, hắn quay phắt ra phòng khách. Ngồi xuống ghế. Lần đầu tiên sau hơn 15 năm lưu lạc, hắn khóc. Lòng hắn có một điều mênh mang rất buồn mà hắn, và chỉ hắn, biết lí do của nó.

Người vợ chạy từ phòng sang. Đứa con gái lon ton sau mẹ.

- Gọi eng gọi eng về! - Nó nói tiếng Việt thực ngọng nghịu dễ thương.

- Con nó về từ hơn một tiếng rồi! Cửa hàng đã đóng cửa.

Hắn nhíu lông mày. Đầu hắn vọt ra câu hỏi. Hơn một tiếng sao chưa về tới nhà? Hay là? Hay là không có xe Bus? Hay là nó còn đang lê trong đường tuyết, đường rừng từ bến Bus về nhà?

Hắn vơ vội áo lông dày, vọt xuống cầu thang, không nói với vợ nửa lời. Hắn chạy ra ô-tô. Nổ máy. Trời lạnh, tiếng kin kít của máy đề mãi mới nổ được càng làm cho hắn sốt ruột. Đừng, đừng, mọi sự đừng xấu nhé! Hắn nhấn ga cho xe chồm rẽ tuyết và lao hệt như viên đạn bay xé gió tuyết về con đường rừng vắng tanh. Hắn bật đèn pha cháy rực cả con đường trắng xoá.

Tới mười phút sau không chính xác, chiếc xe quay một vòng bên bìa rừng cạnh một bóng nhỏ ngồi im như tạc bằng đá trên một thân cây gỗ nằm ngã xuống bìa rừng từ đầu cơn bão tuyết vụ đông năm ấy.

Hắn hối hả mở cửa xe, hối hả lao như con sói vào đứa con non của sói.

Hắn nhìn thấy khuôn mặt thằng bé. Đôi mắt vẫn nhắm. Trên vai áo khoác dạ, những bông tuyết trắng muốt, tinh khiết, sáng rực dưới ánh đèn pha ô-tô. Hắn ôm choàng đứa con. Thọc tay vào ngực đứa trẻ, xoa lấy xoa để….

Nửa giờ sau. Hắn và người vợ ngồi bên đứa trẻ được xoa tuyết toàn thân, rồi ủ chăn ấm đã tỉnh dậy. Nó ngơ ngác nhìn.

Hắn cười. Nụ cười sau bốn ngày chết nay lại hồi sinh. Nụ cười làm khuôn mặt hắn đẹp lạ lùng. Cái đẹp của người đàn ông giang hồ từng trải và đau khổ khi được cười hạnh phúc.

- Con ơi, thấy tiền rồi!

Thằng bé nhỏm dậy. Nó ngơ ngác và, chợt hiểu. Nó cười.

Ba con người, đúng hơn là bốn con người ôm chầm lấy nhau và họ đều im lặng để nước mắt người này quyện với nước mắt người kia.

** *

Những ngày sau đó, không ai lục vấn số tiền lớn kia, hắn hay vợ hắn, hay con hắn, đã cất. Bố ai mà nhớ ra trong mấy ngày tuyết gió có bao nhiêu trận tuyết? Vả lại, mọi điều quan trọng nhất đã sáng tỏ. Đấy là hắn nghĩ vậy.

Cũng thực kì lạ, cái lão trời già lắm chuyện. Gió như thế, bão như thế mà thoắt một cái, băng lại tan và mặt đất hiện ra. Mặt đất đen tuyền, nhưng không lạnh.

Ven đường, cạnh chỗ thằng bé ngồi hơn một giờ trong đêm, có bụi hoa Forytchia, cành chua chúa vươn mãi. Mới ấm một tẹo thôi mà đã chi chít mầm vàng chói. Màu non ấy, ai nhìn kỹ đều cho là nắng sớm đọng vào đó báo hiệu xuân sẽ về…

24/12/2002 - Nước Đức




(1) Forytchia - Một loại cây hoa, mọc báo xuân ở Châu Âu. Hoa như bông mai, nhưng khi chín, nở dày đặc trên cành không lá, rực vàng, rất ấn tượng.

(1) Đột vòm - tiếng lóng chỉ hành vi đột nhập vào nhà lấy cắp, trộm . Vòm = Nhà. Nơi ăn nghỉ của đạo tặc cũng được gọi là vòm.

(1) Hộp đường dẫn nước, điện, ga thường chạy suốt từ hầm lên mọi tầng nhà.

(4) Boese – Giận dữ, căng thẳng. Còn có nghĩa là ma quỷ.


Hoạt động của room
22.07.2010
(nguyenvantho - 28.09.2008)
+
(14) bình luận: Phạm Hà Quyên, lien
24.06.2010
18.06.2010
(thanhtruc - 22.08.2008)
+
(1) bình luận: STANLEY30AMIE
16.06.2010
(nguyenvanquy - 20.06.2008)
+
(15) bình luận: quoc hoang, htrang, BiEn
01.05.2010
01.03.2010
(vuthanhthuy - 18.08.2008)
+
(1) bình luận: GeorgeRachel24
13.02.2010
(alexandria - 23.12.2008)
08.11.2009
(nguyenvantho - 02.07.2008)
+
(3) bình luận: Nguyễn Thị Khiêm Nhu, chip, javacola
Bạn bè nhận xét
Truyện hay quá. Hình như bác Thọ ở bên Đức?