Chứng minh văn học của dân tộc ta luôn ca ngợi những ai biết thương người như thể thương thân

Đề bài: Chứng minh rằng văn học của dân tộc ta luôn ca ngợi những ai biết “thương người như thể thương thân” và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn.

***

Dàn ý tham khảo:

I. Mở bài

– Vẻ đẹp của văn chương là hướng người đọc đến với sự hiểu biết và tình yêu thương.

– Những tác phẩm học trong chương trình Ngữ văn giúp ta hiểu rằng: Văn học của dân tộc ta luôn tôn vinh những ai biết “thương người như thể thương thân” và phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước hoạn nạn của đồng loại.

II. Thân bài

* Văn học dân tộc ta đã ca ngợi những ai có lòng nhân ái “thương người như thể thương thân”

– Tình cảm xóm giềng:

+ Ông giáo với lão Hạc (Nam Cao, Lão Hạc)

+ Bà lão láng giềng với vợ chồng chị Dậu (Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

– Tình cảm gia đình:

+ Tình cảm vợ chồng: Chị Dậu ân cần chăm sóc chồng, quên mình bảo vệ chồng (Tắt đèn – đoạn trích Tức nước uỡ bờ)

+ Tình cảm cha mẹ và con cái

  • Cha mẹ thương con cái: Lão Hạc thương con (Lão Hạc).
  • Con cái thương cha mẹ: bé Hồng thông cảm, bênh vực, bảo vệ mẹ (Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu); con trai Lão Hạc: thương cha.

* Văn học phê phán những kẻ bất nhân, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn

– Ngày xưa: Lí Thông lừa lọc, cướp công Thạch Sanh, dù được Thạch Sanh tha cho nhưng vẫn bị trời trừng phạt.

– Ngày nay:

+ Tội ác của thực dân Pháp với nhân dân ta (Nguyễn Ái Quốc, Thuế máu)

+ Tội ác của quan lại tay sai phong kiến: Quan phụ mẫu vô trách nhiệm, vô lương tâm (Phạm Duy Tốn, Sống chết mặc bay), cai lệ nhẫn tâm (Ngô Tất Tố, Tắt đèn – “Tức nước vỡ bờ”)

+ Những người chịu ảnh hưởng của hủ tục phong kiến: người cô của bé Hồng (Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu)

III. Kết bài:

– Văn học đã khơi dậy tình cảm yêu ghét đúng đắn cho con người để con người sống tốt đẹp hơn.

Tham khảo thêm: Dàn ý bài nghị luận về văn học và tình thương

Văn mẫu chứng minh văn học dân tộc luôn ca ngợi thương người như thể thương thân, phê phán kẻ dửng dưng

Văn học dân tộc ta luôn ca ngợi những ai biết thương người như thể thương thân

Mẫu bài chứng minh số 1:

Hoài Thanh đã từng khẳng định: “Nguồn gốc cốt yếu của văn chương chính là lòng yêu thương con người”, xuất phát từ tình yêu thương, rất nhiều tác phẩm văn học đã ra đời. Đó cũng chính là lí do vì sao văn học dân tộc luôn ca ngợi những ai biết thương người như thể thương thân và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn.

Văn học dân tộc luôn ngợi ca những ai “thương người như thể thương thân” tức là văn chương luôn có thái độ đề cao, coi trọng, trân trọng những người biết quan tâm, yêu thương, đối xử với người khác tốt đẹp như đối với chính bản thân mình. Đây là quan điểm xuyên suốt mà ta có thể tìm thấy trong tất cả các tác phẩm văn chương đề cập tới con người.

Thực tế, trong các tác phẩm văn học, lúc nào ta cũng thấy sự ngợi ca, trân trọng ấy. Ngay từ xưa, trong những câu ca dao, tục ngữ, ông cha ta cũng đã đúc kết chân lí: “Lá lành đùm lá rách” hay:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Bạn đang xem: Chứng minh văn học của dân tộc ta luôn ca ngợi những ai biết thương người như thể thương thân

Trong những câu chuyện cổ tích, luôn có những nhân vật xuất hiện với chức năng giúp đỡ những người khác như ông Tiên, bà Tiên, ông Bụt. Đây là những nhân vật luôn được nhìn nhận với cái nhìn ngưỡng mộ và trân trọng. Thạch Sanh luôn được đề cao, chàng tốt bụng, luôn giúp đỡ mọi người nên cuối cùng có được kết cục tốt đẹp và viên mãn. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người sống suốt đời “vì nước quên mình”, Bác sống cho đất nước, nhân dân. Văn học ngợi ca điều đó nên những vần thơ viết về Bác luôn là những vần thơ ngợi ca:

“Bác sống như trời đất của ta

Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa

Tự do cho mỗi đời nô lệ

Sữa để em thơ lụa tặng già”

Văn chương luôn ngợi ca những người hết lòng vì người khác, nhưng đồng thời cũng luôn lên án và phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn. Lí Thông luôn dửng dưng trước khó khăn mà Thạch Sanh gặp phải, bởi vậy hắn phải chịu kết cục bị biến thành bọ hung. Đọc Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn, thấm đẫm trong từng trang văn là thái độ phê phán, chán ghét đến tận cùng của tác giả với những tên quan lại và tay sai mải chơi bài bạc, bỏ mặc cảnh lầm than của nhân dân khi chống chọi và đương đầu với lũ lụt, đê vỡ. Trong “Thời thơ ấu” của Nguyên Hồng, tác giả luôn lên án và phê phán người cô dửng dưng thờ ơ chỉ biết gieo vào đầu đứa trẻ sự thù ghét với người mẹ,… Văn chương, xét đến cùng phê phán những người dửng dưng thờ ơ trước khó khăn hoạn nạn như vậy, cũng chính bởi xuất phát từ tình thương yêu con người.

Hiểu rằng văn học ca ngợi, trân trọng và đứng về tình yêu thương, chúng ta cần tiếp nhận tư tưởng của những tác phẩm văn học như thế nào cho đúng đắn? Đối với những tác phẩm nói về những con người giàu tình yêu thương, ta tiếp nhận với thái độ ngợi ca, coi đó là tấm gương để học tập luyện rèn. Còn đối với những nhân vật văn học đại diện cho cái xấu, cái ác, ta tiếp nhận với thái độ phê phán, lên án.

Cần khẳng định chắc chắn rằng văn học đã, đang và sẽ tiếp tục ngợi ca những ai thương người, nhân hậu và cũng sẽ tiếp tục phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người khó khăn hoạn nạn. Trong cuộc sống, mỗi chúng ta cũng cần có thái độ dứt khoát và rõ ràng như thế để xã hội này, người tốt sẽ ngày càng tốt hơn còn điều xấu, điều ác sẽ không còn nữa.

Mẫu bài chứng minh số 2:

Chúng ta có thể thấy, trong tất cả các tác phẩm văn học, không có tác phẩm nào là không nhắc tới tình thương. Thật vậy, văn học và tình thương là hai khái niệm đan xen, không thể tách rời.

Văn học là một bộ môn nghệ thuật dùng ngôn ngữ để tái hiện đời sống. Các nhà văn, nhà thơ cũng dùng ngôn ngữ để diễn tả tư tưởng, tình cảm của mình với cuộc sống, đặc biệt là tình yêu thương luôn được các nhà văn đề cập đến ở nhiều phương diện. Tóm lại, các cung bậc tình cảm yêu thương đều được phản ánh rất sinh động trong các tác phẩm văn học. Còn tình thương là những biểu hiện tình cảm của người với người, là sự thương mến, xót xa, đồng cảm của những tấm lòng nhân ái, là thứ tình cảm trao đi mà không cần nhận lại, không vụ lợi, toan tính.

Trước tiên, văn học thể hiện phong phú các cung bậc tình cảm yêu thương của con người. Khởi nguồn cho mọi tình yêu, đó là tình cảm gia đình – một thứ tình cảm mà chỉ có máu mủ ruột rà mới hiểu được. Trong đó, tình mẫu tử là cao quý hơn cả. Hình ảnh cậu bé Hồng trong tác phẩm “Những ngày ấu thơ”, đã cho ta thấy được lòng hiếu thảo của Hồng và tình yêu thương mẹ tha thiết. Cậu phải sống trong cảnh mồ côi, người cha nghiện ngập rồi chết, người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực, Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. Ấy vậy mà cậu không hề oán trách mẹ, ngược lại, cậu lại càng yêu thương mẹ hơn. Và chính người mẹ, cũng đã vượt qua những dị nghị, những sự mặc cảm để trở về bên đứa con bé bỏng của mình. Không chỉ ở những tác phẩm văn học, mà ca dao tục ngữ cũng nói về tình cảm mẫu tử:

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ

Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con”

Cho dù ta đã lớn khôn, trưởng thành, nhưng mẹ sẽ luôn ở bên cạnh ta, theo ta đến suốt cuộc đời này. Mẹ ở bên ta để chia sẻ với ta những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, và mỗi khi ta vấp ngã, mẹ sẽ là người động viên, cổ vũ để ta có thể tự đứng lên bằng chính đôi chân của mình. Tiếp theo, văn học còn cho ta thấy một thứ tình cảm cũng vô cùng đẹp đẽ, sâu sắc không kém, đó là tình cảm vợ chồng. Ví dụ như chị Dậu trong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô tất Tố, chị là một người phụ nữ đảm đang, yêu thương chồng con hết mực, dám vùng dậy đấu tranh, đánh trả bọn cai lệ và người nhà lí trưởng để bảo vệ chồng mình. Không chỉ vậy, chắc hẳn trong chúng ta không ai có thể quên được câu truyện cảm động “Cuộc chia tay của những con búp bê” của nhà văn Khánh Hoài. Hai anh em Thành và Thuỷ chia tay nhau đẫm nước mắt. Những con búp bê trong truyện cũng như hai anh em Thành và Thuỷ trong sáng, vô tư, không có tội lỗi gì, thế mà lại phải chia tay nhau. Đọc câu truyện này, chúng ta thấy rơi nước mắt vì tình cảm yêu thương nhau của hai anh em. Qua đó, nhà văn đã cho chúng ta thấy tình cảm gắn bó giữa anh em với nhau trong gia đình.

Xem thêm  Công của lực điện, Thế năng của một điện tích trong điện trường Công thức và bài tập – Vật lý 11 bài 4

Không chỉ trong gia đình mà ngay cả giữa những con người không cùng máu mủ, nhưng văn học vẫn đề cập đến, đó tình yêu thương giữa con người với con người trong xã hội. Người xưa luôn nói đến tình cảm yêu thương đồng bào qua câu ca dao:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

Bầu và bí là hai loại cây khác nhau nhưng thường được người nông dân trồng chung trên một rẻo đất, thường leo chung một giàn tre. Nó trở nên thân thiết, gần gũi, cùng chung một điều kiện sống, cùng chung một số phận. Chính vì thế, dân gian đã mượn hình ảnh cây bầu, cây bí, qua đó nhắc nhở con người phải biết yêu thương, đùm bọc nhau. Hay như nhân vật ông giáo trong tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao, ông là một người tri thức nghèo nhưng có lòng yêu thương người vô bờ bến. Khi lão Hạc phải xa con, rằn vặt vì không lo nổi đám cưới cho con mình, khi lão Hạc khổ sở vì bán con chó, thì chính ông giáo là người xoa dịu cái nỗi đau của lão Hạc. Ông là chỗ dựa tinh thần, là niềm an ủi, tin cậy của lão Hạc. Không chỉ vậy, ông giáo còn tìm mọi cách để giúp khi biết lão Hạc đã nhiều ngày không ăn gì.

Lòng yêu thương đất nước còn được thể hiện sâu sắc trong tác phẩm “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn. Trước tiên, Trần Quốc Tuấn thể hiện lòng yêu nước của mình ở lòng căm thù giặc. Ông vạch trần tội ác của giặc bằng lời lẽ sinh động, coi chúng như loài cầm thú: “cú diều”, “dê chó”, “hổ đói”. Trạng thái căm uất sục sôi, hận thù bỏng rát, chất chứa cảm xúc lớn về vận mệnh đất nước. Không chỉ Trần Quốc Tuấn là một vị chủ tướng yêu nước, mà ngay cả Nguyễn Trãi cũng thể hiện lòng yêu nước của mình qua văn bản “Nước Đại Việt ta”. Nguyễn Trãi đã có tư tưởng tiến bộ, ông đề cao sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của dân tộc. Không những thế, ông còn cho ta thấy tất cả các yếu tố của một quốc gia có độc lập tự chủ, có nền văn hoá lâu đời, có lãnh thổ riêng, phong tục riêng.

Tình thương trong văn học còn thể hiện ở các nhà văn phê phán thái độ sống ích kỷ, độc ác của con người trong xã hội. Ví dụ như trong truyện cổ tích “Tấm Cám”, chúng ta sẽ thấy được thái độ căm ghét của mọi người đối với mẹ con Cám. Cái chết ở cuối câu truyện đã lên án gay gắt: những kẻ ác phải bị trừng phạt.

Tình yêu thương gia đình, yêu thương đồng loại, phê phán những tội ác to lớn, tất cả đều được phản ánh trong văn học. Văn học chính là yếu tố quan trọng trong việc lưu giữ lịch sử của thế hệ trước cho đời sau.

  • Nghị luận xã hội bàn về vấn đề sống vô cảm

Mẫu bài chứng minh số 3:

Dân tộc ta từ xưa đến nay luôn lấy chữ “nhân” làm gốc. Đó là một trong những truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, đó như là sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ thế hệ này sang thế hệ khác là cơ sở để gắn kết con người với con người. Chỉ có tình thương mới có thể làm chúng ta đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong mọi lúc khó khăn nhất. Các cụ đã đúc kết tinh thần đấy để khuyên nhủ con cháu qua câu thành ngữ:

“Thương người như thể thương thân”

Thương người là thương yêu những người xung quanh chúng ta, biết thông cảm, biết chia sẻ những nỗi buồn, niềm vui với họ, sẵn sàng giúp đỡ họ trong mọi lúc họ khó khăn nhất. Còn thương thân là thương bản thân mình, cảm nhận được nỗi khổ của mình khi đói, khi rét, khi lạnh, khi ốm đau… Cả câu thành ngữ có nghĩa là mình yêu thương người khác như yêu quý bản thân mình, nếu đã trải qua mọi khó khăn, đau khổ của mình thì khi thấy người khác như vậy hãy giúp đỡ họ, cảm thông, chia sẻ với họ, quan tâm họ như quan tâm tới bản thân mình thì đó mới gọi là tình thương. Câu tục ngữ muốn nhắn nhủ chúng ta sống thì biết yêu thương, trân trọng người khác như trân trọng chính bản thân mình. Có như vậy mới truyền thống tốt đẹp ấy càng ngày càng vun đắp đẹp hơn.

Mỗi một cá nhân chúng ta không thể sống tách khỏi cộng đồng, nếu ra khỏi cộng đồng thì chắc chắn sẽ không phải là con người nữa. Chỉ có gia đình thôi là chưa đủ, ngoài ra cần phải có cộng đồng, những người xung quanh chúng ta. Các cụ có câu:

 “Bán anh em xa mua láng giềng gần”

Câu này có nghĩa là không chỉ riêng anh em ruột thịt thì mới chăm sóc lẫn nhau, nếu khi ta ốm đau mà anh em lại không ở gần bên cạnh chúng ta thì những người hàng xóm từ chỗ không quen biết với tình thương lại trở thành anh em của ta từ lúc nào. Mối quan hệ của ta với những người xung quanh là mối quan hệ khăng khít, cơ hữu, mình có thông cảm, có giúp đỡ thì mới có nhận lại được cách đối xử như vậy. Có câu:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

Yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau đã trở thành một nét đẹp có từ lâu đời, không chỉ riêng nước ta mà ở trên toàn thế giới. Hàng năm, có rất nhiều chương trình từ thiện, ủng hộ trên khắp cả nước với tiêu chí “lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Mỗi năm cứ đến mùa là đều có chương trình từ thiện, mùa đông có chương trình “đông ấm” ủng hộ quyên góp quần áo ấm cho các trẻ em trên miền núi, gây quỹ ủng hộ người nghèo. Mùa hè có chương trình “mùa hè xanh” giúp bà con làm đường, làm các công việc khác giúp đỡ nhân dân và các chương trình khác giúp đỡ, chia sẻ  nhằm thấu hiểu và yêu thương nhau hơn. Gần đây nhất chắc hẳn ai cũng biết miền Trung bị lụt, có một số huyện bị lũ cô lập, cuộc sống rất khó khăn nhất là về lương thực thực phẩm và đồ dùng thiết yếu. Cả nước đã hướng về miền Trung ruột thịt, quyên góp tiền, quần áo sạch, đồ dùng thiết yếu và những thùng mì cứu trợ… Những món quà tuy nhỏ nhưng đó cũng là một niềm vui lớn với những người dân nơi đây. Đây là những bức tranh vẽ lại tình yêu thương con người của dân tộc ta một cách chân thực và xúc động nhất. Đó là một nét đẹp và trở thành một đạo lý sống của con người Việt Nam và đó cũng là biểu hiện tinh thần đại đoàn kết dân tộc, tương thân tương ái của dân tộc Việt. Và chúng ta phải lên tiếng phê phán những người ích kỉ, chỉ biết đến lợi ích của bản thân không quan tâm đến nhưng người xung quanh mình. Những người như vậy không xướng đáng để có tình thương.

Tình nghĩa, đại đoàn kết các dân tộc đó là hai yếu tố quan trọng nhất để có một đất nước có đủ sức mạnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Để được như vậy, chúng ta phải gắn kết nhau lại bằng sợi dây tình thương, tình yêu con người lan tỏa tình yêu ấy rộng khắp cả nước và ra toàn nhân loại. Trong thời đại mới, hội nhập với các nước trên thế giới tinh thần ấy lại càng phải được giữ vững hơn, không được để bọn phản động có cơ hội tuyên truyền những điều xấu chia cắt nước ta. Chúng ta hòa nhập nhưng không được hòa tan, ghi nhớ lời khuyên của các cụ: “Thương người như thể thương thân”.

Văn học dân tộc ta nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn

Mẫu bài chứng minh 1:

Lòng nhân ái là một chủ đề in sâu, in đậm trong nền văn học của dân tộc ta. Con người Việt Nam giàu tình thương nên văn học dân tộc mới có nhiều tác phẩm ca ngợi tình thương một cách thật hay, thật cảm động như thế. Tình cha con, mẹ con, tình anh em chị em ruột thịt, tình bè bạn, tình yêu đồng loại… như những ngọn lửa ấm áp làm bừng sáng câu thơ, bài văn, làm cho người đọc không khỏi bồi hồi xúc động.

“Gió mùa thu, mẹ ru con ngủ…”, “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa/ Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”, “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”… Những câu hát câu ca đã cùng lời ru tiếng hát của bà, của mẹ thấm sâu vào hồn tuổi thơ, mà mỗi chúng ta sẽ mang theo suốt cuộc đời:

Xem thêm  Top 3 bài văn tả cây bàng lớp 5 hay nhất

Mẹ ru cái lẽ ở đời

Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn

Bà ru mẹ, mẹ ru con

Liệu mai sau các con còn nhớ chăng?

Từ mái nhà êm ấm mẹ cha, ta mang theo tình thương anh, thương chị, thương em, ta biết “Chị ngã, em nâng”, ta nhớ “Anh em như thể tay chân”,… để bước vào đời, sống giữa tình thương bao la của đồng bào, đồng chí, đồng loại. Thầy, cô giáo dạy ta bài học “Thương người như thể thương thân”, nhắc ta biết ăn, ở có tình nghĩa thuỷ chung:

“Bầu ơi, thương lấy bí cùng,

Tuy rằng khúc giống nhưng chung một giàn”,

hoặc:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Truyện trung đại viết bằng chữ Hán đã ngợi ca những con người giàu tâm đức. Bà đỡ Trần giúp hổ cái vượt qua cơn đau đẻ được mẹ tròn con vuông, bác tiều phu ở Lạng Giang đã thò tay vào miệng hổ cứu hổ bị hóc xương. Người thì được hổ đền ơn 10 lạng bạc, người thì được hổ biếu lợn, nai, lúc qua đời được hổ đến đưa tang. Quan ngự y Phạm Bân đã dựng nhà thương, phát cơm cháo, thuốc men, cứu chữa hàng nghìn người nghèo khó vượt qua cơn dịch bệnh, được người đời ngợi khen là “bậc lương y chân chính, đã giỏi về nghề nghiệp lại có lòng nhân đức”. Vũ Trinh và Phạm Đình Hổ đã để lại bao trang văn, bao hình ảnh, bao câu chuyện nói về tình thương, ca ngợi tình thương rất giàu ý nghĩa và có tác dụng giáo dục sâu sắc.

Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du và “Truyện Lục Vân Tiên” của nhà thơ lớn Nguyễn Đình Chiểu là hai kiệt tác bằng chữ Nôm giàu giá trị nhân đạo. Hai cụ đã dành những vần thơ đẹp nhất ca ngợi tình yêu chung thuỷ của lứa đôi, đồng thời nói lên chữ nhân, chữ nghĩa thật sâu sắc, cảm động. Vai Giác Nguyên, mụ Quản gia, Tiểu đổng, Lão bà, Vương Tử Trực,… là những con người đẹp mãi, sống mãi trong lòng người bởi tình thương. Người đọc có bao giờ quên lời Kiều nói trong buổi báo ân báo oán:

“Nhớ khi lỡ bước sẩy vời,

Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thân

Nghìn vàng gọi chút lễ thường

Mà lòng Phiếu mẫu mấy vàng cho cân!

(Truyện Kiều)

Coi những nhân vật như Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Trịnh Hâm,… lũ bạc ác tinh ma ấy sẽ bị thế gian muôn đời nguyền rủa và phỉ nhổ.

Bên cạnh những con người nhân đức biết san sẻ cưu mang “lá lành đùm lá rách” lại có những kẻ lòng dạ đóng băng, dửng dưng trước nỗi đau của đồng loại, sống vô cảm, vô tình, “cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại”. Những kẻ ấy ai đoái, ai nhìn, ai trọng, ai gần?

Tôi rất thích chữ “thương” trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu:

“Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.”

Tôi nhớ mãi chữ “thương” trong câu thơ của Tố Hữu:

“Thương nhau chia củ sắn lùi,

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

Tóm lại, lòng nhân ái, chữ thương, chữ tình, chữ nghĩa trong thơ văn của dân tộc đã ướp thơm hồn người, đã truyền cho ta sức mạnh để sống đẹp hơn, để vượt qua mọi thử thách khó khăn trong cuộc đời, để sống gần người hơn, nhân ái hơn.

Có thể bạn cũng quan tâm: Nghị luận về ý nghĩa của sự đồng cảm, sẻ chia trong cuộc sống giữa người với người

Mẫu bài chứng minh 2:

“Văn học”, đó là một phạm trù rộng lớn, là một thế giới muôn hình vạn trạng, phong phú như một thế giới thực. Chỉ khác là nó tồn tại trong những trang giấy, những từ ngữ văn chương. Trong thế giới đó cũng có đủ mọi trạng thái tình cảm của con người và cuộc sống. Tình thương yêu được nhắc đến một cách đa dạng và sâu đậm, đủ để mang đến cho người ta những xúc cảm thật sự sâu sắc.

Người ta thường nói tình thương là điểm khởi nguồn của văn học, nó tạo ra cảm xúc cho các tác phẩm văn học. Nó giúp cho ta thiết lập một mối quan hệ với tất cả mọi người. Nó giúp cho chúng ta biết lắng nghe ý kiến xung quanh. Tạo cho ta những xúc cảm mới lạ để ta biết yêu thương, biết vui buồn, biết sống với mọi người, sống với thiên nhiên, sống với vạn vật xung quanh mình. Văn học khơi dậy những tình cảm tự nhiên mà ta không có, làm cho ta biết yêu người và ngược lại ta cũng cảm nhận được mọi người yêu quý ta. Có tình yêu thương, cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn, mọi người sẽ cùng nhau sống hoà thuận và yêu thương nhau hơn. Cái xấu cũng thành tốt và cái tốt lại càng tốt hơn nữa. Vậy chẳng phải, tình thương đã khởi nguồn cho cảm xúc và là cơ sở để văn học ca ngợi cuộc sống tươi đẹp của chúng ta ?

Văn học đem lại cho người đọc những trang viết, những tình cảm chân thật. Người ta đọc mà vẫn có thể cảm nhận được sự ấm áp của tình thương gia đình, sự vui vẻ của tình bè bạn, vẻ êm đềm của tình yêu thiên nhiên, niềm mãnh liệt của tình yêu Tổ quốc và ngay cả nỗi căm tức, phẫn nộ trước những hình ảnh chà đạp lên con người… ấy chính là “văn học và tình thương”. Tình cảm được bộc lộ, thể hiện trong văn học cũng có thể mãnh liệt và dữ dội như cảm xúc của con người. Khả năng diễn đạt của văn học vốn đã rộng lớn nay còn thể hiện thêm tình thương yêu của con người. Nhờ vậy mà nó càng trở nên mênh mông, sâu nặng hơn, nó đem đến cho ta những tình cảm mà ta chưa từng trải qua, để ta trở nên nhân hậu hơn và tinh tế hơn.

Tình cảm trong văn chương cũng được bộc lộ rất đa chiều. Có lúc văn chương ca ngợi những tình cảm tốt đẹp, có khi nó lại phê phán những hành động xấu xa… Tình cảm đó là đề tài mà văn học đề cập nhiều nhất và nó cũng dành những trang viết đẹp nhất. Trong đời sống gia đình, văn học thể hiện với một sự đầm ấm, trìu mến đến cao quý. Nó được bộc lộ qua những tác phẩm như “Bức tranh của em gái tôi”, đoạn trích ”Trong lòng mẹ” của tác phẩm “Những ngày thơ ấu”,… Cô em gái bé nhỏ tài năng ấy sao có được tấm lòng yêu thương đầy bao dung đến vậy ? Qua bức tranh của mình, tấm lòng ấy đã được thể hiện đầy rung cảm, nó gột sạch tính ích kỉ và những gì là hẹp hòi, đố kị thường có trong tâm hồn của người anh hay của mỗi chúng ta. Đó chẳng phải là một ví dụ nổi bật cho tình cảm thương yêu hay sao ?

Chú bé Hồng ở trích đoạn “Trong lòng mẹ” cũng vậy. Tuy nhỏ bé nhưng trong em lại chứa đựng biết bao tình cảm thương yêu. Nó yêu mẹ mãnh liệt lắm, nó đủ sức giữ bình tĩnh và tỉnh táo trong những lời nói, cử chỉ để bảo vệ mẹ mình. Tình cảm ấy đã giúp đỡ chú chống chọi và vượt qua những lời nói đầy ác ý của người cô. Nếu không có được tình cảm ấy có lẽ chú bé đã bị tiêm nhiễm những hình ảnh không hay về mẹ, đã bị nhiễm cái nhìn cổ hủ, tàn nhẫn của chế độ phong kiến thối nát. Tình cảm đó có sẵn trong con người và phát triển theo thời gian. Cô bé Thuỷ trong “Cuộc chia tay của những con búp bê” chẳng phải còn rất nhỏ đó sao, vậy mà cô bé vẫn có được tình yêu mến vô cùng tha thiết với người anh trai. Hai anh em gắn bó, thương yêu nhau đến nao lòng, chúng bịn rịn, đau khổ vì phải chia tay, chúng hi sinh cho nhau và dành cho nhau những tình cảm tốt đẹp nhất. Tất cả đã được bộc lộ sinh động trong văn học, điều đó giúp chúng ta cảm nhận được sự ấm áp và xúc động trước những con người, những tình cảm thân thương đó.

Không chỉ có trong gia đình mà ngay cả giữa những con người không cùng máu mủ, song cùng một hoàn cảnh, cùng một tâm trạng cũng có những tình cảm gắn bó không kém. Nhà thơ Nguyễn Khuyến chẳng đã vô cùng mừng rỡ khi bạn đến chơi đó sao ? Ông đã mừng rỡ, vui vẻ pha chút bối rối đầy hóm hỉnh của một nhà thơ vô cùng hiếu khách. Nhiều cung bậc tình cảm đã thể hiện để rồi đưa chúng ta đến với cảm nhận về tình cảm bạn bè cao quý trên mọi giá trị vật chất trên đời này.

Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng thể hiện tấm lòng yêu thương đồng bào tha thiết vào thơ văn. Những tình cảm ấy mạnh mẽ, da diết, bộc lộ rõ qua từng từ ngữ, cách hành văn và cả cách hành động của những con người trong tác phẩm “Thuế máụ”. Người viết bằng tiếng Pháp, những nỗi đau xót trước cảnh lầm than của nhân dân nước Việt Nam đau đớn trong từng câu từng chữ của Người. “Ngắm trăng” lại gửi gắm một tình yêu thiên nhiên say đắm của Người tù cộng sản này. Bài thơ làm bằng chữ Hán viết trong nhà ngục Quảng Đông (Trung Quốc) mà sao lời thơ da diết yêu thương như trái tim Bác, cái trái tim mà thơ Tố Hữu đã ca ngợi:

Xem thêm  Học trực tuyến trên Google Classroom: Cách đăng ký, Tạo lớp và thêm học sinh

“Bác ơi, tim Bác mênh mông thế

 Ôm cả non sông, mọi kiếp người.”

Hình ảnh con người trong các tác phẩm văn học của dân tộc ta đã gợi cho người đọc một niềm thương cảm, sâu lắng, và giúp chúng ta trau dồi thêm tình cảm nhân hậu và bao dung.

Khép mỗi trang sách lại, hình ảnh và số phận con người trong văn học Việt Nam vẫn làm rung động lòng ta bởi ngàn vạn cảm xúc khác nhau. Ta muốn sống tốt đẹp hơn, mở rộng lòng mình để yêu thương nhiều hơn. Cảm ơn văn học, với mỗi trang viết nó đã đưa ta đến với những gì tốt đẹp nhất và thiết tha mong muốn làm những điều tốt đẹp trả lại cho cuộc đời.

Chứng minh văn học của dân tộc ta luôn ca ngợi những ai biết thương người như thể thương thân

Chứng minh văn học của dân tộc ta luôn ca ngợi những ai biết thương người như thể thương thân

Mẫu bài chứng minh 3:

Từ xưa, dân tộc Việt Nam đã có truyền thống “Lá lành đùm lá rách”. Vậy nên văn hoá của dân tộc ta luôn ca ngợi những người biết “Thương người như thể thương thân” và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn. Chúng ta hãy cùng chứng minh vấn đề trên qua các tác phẩm văn học Việt Nam đã học.

Từ ngàn đời nay con người Việt Nam đã biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Tuy không cùng cha mẹ sinh ra nhưng đều mang nòi giống con Rồng cháu Tiên. Ca dao có câu:

Bầu ơi! Thương lấy bí cùng,

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Điều đó đã nhắc nhở chúng ta phải biết thương yêu đồng loại. Đó cũng là bản chất tốt đẹp của dân tộc ta. Ông cha ta đã để lại cho chúng ta một kho tàng văn học vô cùng quý giá về lòng thương người. Người xưa khi để lại những áng văn thơ bất hủ ấy không chỉ muốn chúng ta biết và tự hào về truyền thống “Thương người như thể thương thân” mà còn muốn chúng ta giữ gìn và phát huy những truyền thống đó. Vậy chúng ta hãy cùng tìm hiểu lòng nhân ái được thể hiện qua văn thơ như thế nào? Có lẽ trong thời thơ ấu, không đứa trẻ nào lại không được mẹ kể cho nghe những câu chuyện cổ tích li kì, hấp dẫn. Truyện cổ tích không đơn thuần chỉ là truyện tưởng tượng, nó cũng được gửi gắm rất nhiều suy nghĩ và tình cảm của dân tộc ta. Chúng ta hãy bước vào thế giới cổ tích và tìm đến với những câu chuyện về lòng nhân ái.

Có lẽ câu chuyện Thạch Sanh đã thành quen thuộc với chúng ta từ rất lâu. Thạch Sanh là một chàng trai khoẻ mạnh, tốt bụng. Ngược lại, Lí Thông là một kẻ mưu mô, xảo trá. Lí Thông đã nhiều lần hãm hại chàng Thạch Sanh nhưng đều thoát được. Khi Thạch Sanh đã cưới được công chúa, hoàng tử các nước chư hầu trước kia bị công chúa từ hôn lấy làm tức giận, hội binh lính mười tám nước chư hầu kéo sang đánh. Thạch Sanh liền một mình cắm cây đàn ra trước quân giặc. Tiếng đàn của chàng vừa cất lên thì quân sĩ mười tám nước bủn rủn chân tay, không còn nghĩ tới chuyện đánh nhau. Cuối cùng, các hoàng tử phải cởi đồ giáp xin hàng, Thạch Sanh sai dọn một bữa cơm thết đãi những kẻ thua trận. Vậy tại sao Thạch Sanh lại không mang quân ra đánh? Thạch Sanh vốn là một con người nhân hậu, chàng không muốn nhiều binh sĩ phải chết vì chiến tranh phi nghĩa. Tại sao tiếng đàn Thạch Sanh lại làm hại được quân mười tám nước hùng mạnh? Khi binh sĩ đầu hàng, chàng không những không đánh họ, mà còn sai người mang cơm ra thết đãi. Thạch Sanh thật là một con người vô cùng độ lượng. Kết thúc câu chuyện, mẹ con Lí Thông phải chết, còn Thạch Sanh được kết hôn cùng công chúa và lên ngôi vua. Đó thật là một kết thúc có hậu phải không các bạn? Tuy trong truyện cổ những chi tiết tưởng tượng li kì, không có thật, nhưng câu chuyện đã cho ta thấy ước mơ, niềm tin về đạo đức, công lí xã hội và lí tưởng nhân đạo của nhân dân ta.

Nhưng không chỉ trong truyện cổ tích, ngay đời sống hàng ngày cũng có những con người như vậy, những con người luôn quan tâm tới người khác. Trong bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên có đoạn như sau:

Ông đồ vẫn ngồi đấy,

Qua đường không ai hay,

Lá vàng rơi trên giấy,

Ngoài giời mưa bụi bay.

Trong đoạn thơ, nhà thơ Vũ Đình Liên đã tạo nên hình ảnh ông đồ của một thời tàn. Giờ đây ông để chỉ như một cái bóng vô hình lặng lẽ ngồi đó, người qua đường chẳng ai chú ý tới ông. Tác giả sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình để bộc lộ tâm trạng ông đồ. Mùa xuân mà lại có lá vàng rơi. Lá vàng là biểu tượng cho sự tàn úa. Mưa bụi tuy thật nhẹ nhàng nhưng lại thật là dai dẳng. Nó làm tê tái cả lòng người. Đó không chỉ là nỗi buồn của ông đồ mà còn là nỗi nhớ tiếc của tác giả:

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người luôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Ông đồ già ở đầu bài đã biến thành ông đồ xưa ở cuối bài. Trong trường học, người học không cần ông nữa. Và giờ đây, ở ngoài đường, người ta cũng lãng quên ông. Nhưng may sao vẫn còn một Vũ Đình Liên nhớ tới ông. Tác giả đã nói lên hình ảnh đáng thương của ông đồ, qua đó bộc lộ nỗi nhớ thương da diết của mình với cảnh cũ người xưa. Đó là cảnh người qua đường xúm lại thuê ông viết chữ, tấm tắc khen ngợi tài năng của ông. Nhưng giờ đây tất cả đã qua đi, ông đồ cũng đã biến mất. Hình ảnh ông đồ viết chữ bên đường là một nét đẹp văn hoá của người Việt Nam, vậy mà giờ nó đang bị mai một dần. Thời đó, hiếm có ai lại quan tâm tới ông, tất cả đều thờ ơ. Ở đây lòng nhân ái không chỉ với một người mà còn đối với một lớp người, một thế hệ con người tài năng bị lãng quên. Thế mới biết lòng thương người của Vũ Đình Liên thật rộng lớn.

Trong xã hội, bên cạnh người tốt cũng có những người xấu, thờ ơ trước người gặp hoạn nạn. Chúng ta hãy tìm hiểu điều này qua truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn. Trong khi trăm họ đang vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa như đàn sâu lũ kiến ở trên đê, thì ở trong dinh quan phụ mẫu rất nhàn nhã, đường bộ, nguy nga. Phải chăng quan phụ mẫu chưa nghe tin đê sắp vỡ? Chẳng lẽ lại ngồi ung dung như vậy? Bỗng một người nhà quê tất tả chạy xông vào, thở không ra lời: “Bẩm… quan lớn… để vỡ mất rồi. Đọc đến đây ta có thể hình dung quan lớn hốt hoảng như thế nào? Nhưng thật ngạc nhiên, thật bất ngờ, quan phụ mẫu không những không hốt hoảng và còn sai lính đuổi các bác nông dân ra ngoài. Đến đây ta có thể thấy được bản chất lòng lang dạ thú của tên quan hộ đê đã hiện ra. Hắn vẫn ung dung, vui vẻ ngồi chơi bài, không hiểu lá bài kia có ma lực gì mà lại khiến quan mê mẩn đến thế. Trong cảnh nguy cấp như vậy, trừ những kẻ lòng lang dạ thú như tên quan hộ đê còn có ai là không thương xót đồng bào huyết mạch. Đoạn cuối truyện đã cho ta thấy một sự tương phản đến cực độ. Trong khi quan lớn ù ván bài to như thế thi khắp nơi nước tràn lênh láng, cuốn trôi nhà cửa ruộng đất, tình cảnh thật thảm. Văn bản đã lên án gay gắt một tên quan phủ lòng lang dạ thú, vô trách nhiệm đến mất hết tính người, trước sinh mạng của bao nhiêu người mà chẳng hề động tâm, thương xót. Thật buồn thay cho số phận người dân thời đó!…

Qua những sáng tác văn học trên, chúng ta thấy được rằng văn học Việt Nam luôn ca ngợi những ai biết “thương người như thể thương thân” và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn. Chúng ta cần phải biết thương yêu người khác thì mới có thể trở thành người tốt được.

/***/

Qua tham khảo những bài văn mẫu chứng minh văn học của dân tộc ta luôn ca ngợi những ai biết thương người như thể thương thân trên đây, một lần nữa ta có thể nhận thấy được mối quan hệ khăng khít giữa văn học và tình thương. Hi vọng qua đây, mỗi người chúng ta sẽ lại càng thêm yêu thích và hứng thú với việc học tập môn văn hơn.

Đừng quên tham khảo nhiều bài văn mẫu hay lớp 8 khác tại thư mục tài liệu Văn mẫu 8 do BNOK.VN sưu tầm và tuyển chọn. Chúc các bạn luôn học tốt !

 

Tuyển tập văn mẫu lớp 8 hay nghị luận, chứng minh rằng văn học của dân tộc ta luôn ca ngợi những ai biết thương người như thể thương thân.

Đăng bởi: BNOK.VN

Chuyên mục: Giáo dục

Viết một bình luận